Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 30 Tháng Chín, 2014, 04:46:58 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phú Yên - Đất & Người Đất anh hùng  (Đọc 20014 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 07:48:36 AM »

chào mọi người! dưới đây là những trận đánh oai hùng của quân và dân Phú Yên đươc sưu tâp trên trang phuyenonline. Mong mọi người đóng góp thêm...
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Bảy, 2010, 08:00:14 AM gửi bởi tuanquoc19 » Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #1 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 07:50:15 AM »

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, quân và dân Sơn Hòa đã không quản gian khổ, hy sinh đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng, giải phóng quê hương góp phần cùng quân dân cả nước đưa cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đến thắng lợi hoàn toàn. Những tên đất, tên người, những ngọn đồi, từng khu rừng...ở Sơn Hòa đã trở thành những địa danh ghi vào lịch sử, làm rạng rỡ truyền thống vẻ vang của quê hương Phú Yên.
 
 Các cựu chiến binh về thăm lại cơ quan Tỉnh ủy Phú Yên (xã Sơn Long, huyện Sơn Hòa) trong kháng chiến chống Mỹ    –Ảnh:  LÊ KHA
 
Thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyện Sơn Hòa lần thứ II năm 1950, huyện chủ trương “Kiên quyết chống địch lấn chiếm, đẩy mạnh phong trào làm hầm chông cạm bẫy để đánh địch, bảo vệ vùng tự do, bao vây kinh tế địch. Đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, tiếp tục động viên nhân dân góp nhân tài vật lực cho kháng chiến”. Huyện ủy Sơn Hòa phát động phong trào luyện tập quân sự, học tập lý luận chiến tranh nhân dân, thực hiện bố phòng sẵn sàng chiến đấu. Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Yên lần thứ IV, họp từ 27/4 đến ngày 5/5/1951 đã thảo luận sôi nổi chỉ thị của Trung ương Đảng, tích cực cầm cự, chuẩn bị chuyển sang tổng tiến công, ra sức chi viện cho chiến trường các tỉnh bạn như Khánh Hòa, Đắk Lắk, Gia Lai, Bình Định; xây dựng miền tây Phú Yên thành căn cứ địa của tỉnh. Nhân dân vùng căn cứ cách mạng ra sức phục vụ tiền tuyến, đi dân công tiếp vận, phục vụ chăm sóc thương bệnh binh… với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Từng đoàn dân công hàng trăm người và ngựa thồ xuyên rừng lội suối, trèo đèo len qua các khu đồn bót địch, đưa gạo, muối, mắm đến chiến trường vùng sau lưng địch ở Tây Nguyên và bắc Khánh Hòa.
 
Qua hai cuộc kháng chiến, nhân dân vùng căn cứ cách mạng tỉnh Phú Yên đã phát huy truyền thống đoàn kết các dân tộc anh em một lòng chiến đấu và chiến thắng với kẻ thù, bám trụ giữ vững địa bàn chiến lược vùng căn cứ Tỉnh ủy Phú Yên. Kết hợp với đấu tranh chính trị, phong trào nhân dân du kích chiến tranh ở các xã Cà Lúi, Phước Tân, Sơn Định, Sơn Long, Sơn Xuân, Sơn Hà… cũng phát triển mạnh mẽ. Nhân dân ở vùng căn cứ vót hơn 100.000 mũi chông, đặt hàng ngàn cạm bẫy, mở nhiều tuyến đường số phục vụ cho kháng chiến chống kẻ thù. Nhân dân chi viện sức người sức của, đóng góp hàng ngàn con heo, bò, nhiều tấn lương thực, thực phẩm… phục vụ cho bộ đội địa phương và chủ lực.
 
Sơn Hòa có núi non hùng vĩ, có nhiều sông suối, trong đó có con sông Ba phát nguyên từ tỉnh Kon Tum chảy qua. Sơn Hòa có rừng và đất rừng nhiệt đới rất đa dạng, phong phú. Trong chiến tranh, rừng không chỉ là nơi kín đáo cho ta xây dựng căn cứ cách mạng để hoạt động, che giấu lực lượng, tàng trữ vũ khí, xây dựng kho tàng mà còn là nguồn tài nguyên vô tận để khai thác, phục vụ đời sống và chiến đấu. Sơn Hòa vừa có tiềm năng kinh tế dồi dào, vừa giữ một vị trí hết sức quan trọng của tỉnh Phú Yên. Đó là một bộ phận hành lang chiến lược Quân khu 5, là cửa ngõ tỉnh lộ 7 (quốc lộ 25 bây giờ) nối liền Tây Nguyên với đồng bằng Tuy Hòa, có vị trí chiến lược kinh tế, quốc phòng nối liền giữa đồng bằng với miền núi. Chính vì lợi thế này mà Tỉnh ủy Phú Yên đã chọn huyện Sơn Hòa là vùng căn cứ địa cách mạng từ năm 1945 đến năm 1975. Xây dựng căn cứ địa cách mạng, nhất là xây dựng về chính trị, nâng cao giác ngộ của đồng bào, củng cố khối đại đoàn kết với các dân tộc anh em, thực hiện các chính sách dân tộc của Đảng. Đó là ra sức phát triển sản xuất, chăm lo cải thiện đời sống vật chất văn hóa, xây dựng cơ sở hậu cần tại chỗ… Trên hết, quyết định thành công của nhiệm vụ xây dựng căn cứ  địa là công tác xây dựng Đảng và đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở, chăm lo công tác xây dựng chi bộ cơ sở vững mạnh khắp các buôn làng, gắn bó mật thiết với nhân dân. Trong hai cuộc kháng chiến, Sơn Hòa đã xây dựng hậu phương vững chắc về nhiều mặt, có thể phòng thủ vững mạnh, triển khai nhiều đơn vị chủ lực, địa phương tấn công tiêu diệt địch.
 
 
Sơn Hòa hôm nay – Ảnh: LÊ KHA
 
Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Phú Yên, Đảng bộ và nhân dân huyện Sơn Hòa đã phát huy truyền thống yêu nước, vừa sản xuất vừa chiến đấu chống giặc ngoại xâm, giành thắng lợi hoàn toàn về tay nhân dân. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc đó, ngày 22/12/1994, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân huyện Sơn Hòa vinh dự đón nhận danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” do Nhà nước trao tặng. Các đơn vị được phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” là các xã Sơn Long, Phước Tân, Cà Lúi, Sơn Xuân và Sơn Định - những vùng căn cứ vững chắc, sắt son của cách mạng Phú Yên.
 
Từ năm 1975 đến nay, trải qua 34 năm xây dựng và phát triển, được sự quan tâm giúp đỡ của các ngành các cấp, Đảng bộ và nhân dân Sơn Hòa không ngừng phấn đấu vươn lên, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, cơ sở vật chất phục vụ dân sinh. Nhờ đó, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, từng bước vượt qua đói nghèo, bộ mặt nông thôn và các xã vùng căn cứ địa năm xưa nay đã được đổi mới, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa quê hương
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #2 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 07:51:55 AM »


Trong những năm chống thực dân Pháp, Phú Yên là vùng tự do, là nơi nghĩa tình sâu đậm của cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 365 cũng như cả Trung đoàn 803 anh hùng. Cứ sau chiến dịch, anh em lại về nghỉ ngơi như gia đình thứ hai. Nhưng đến ngày 20/1/1954, Pháp mở chiến dịch Át-lăng, đưa quân vào các tỉnh Bình - Phú và Tây Nguyên với 22 tiểu đoàn, 4 binh đoàn. Trong đó có những đơn vị tinh nhuệ như binh đoàn 10, binh đoàn 41-42 và 100, cộng với 2 tiểu đoàn dù ngụy.
 
 
Vùng đất này năm 1954 đã diễn ra trận thắng lẫy lừng của quân ta khi chặn đánh lực lượng của quân Pháp thực hiện Chiến dịch Át-Lăng - Ảnh: L.KHA
 
HẠ ĐỒN ĐẮC ĐOA
 
Theo lệnh trên, để “chia lửa” với chiến trường Điện Biên Phủ, Tiểu đoàn 365 và Trung đoàn 803 tập trung diệt ổ địch ở Cà Hê, Bù Bốp, sau đó cùng với Trung đoàn 108 đánh giải phóng Mang Đen, Cam Rây, U Bat, giải phóng hoàn toàn thị xã Kontum. Lúc này, ở đường 14 và 19 - trục lộ giao thông Bình Định lên, Đắk Lắk ra sát Pleiku, địch xây dựng đồn Đắc Đoa gồm 2 đại đội Âu - Phi chiếm giữ, có sự chi viện của pháo 105. Trung đoàn 803 lệnh cho Tiểu đoàn 365, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trung đoàn phó Hà Vi Tùng, Tiểu đoàn trưởng Phạm Đình Dư và Chính trị viên Cao Thượng Lương, phải diệt gọn đồn Đắc Đoa trong đêm 16.
 
Tiểu đoàn phân công Đại đội 211 làm chủ công là hướng đột phá chính, trực tiếp chỉ huy là Đại đội trưởng Lê Công Khai, Chính trị viên Lê Quang Sán; Đại đội 212 mở đợt phá cánh phụ, Đại đội 213 làm dự bị và 214 có nhiệm vụ tập trung pháo kích vào đền. Đúng 1g30, chúng ta phát hỏa. Sau 3 giờ rưỡi chiến đấu quyết liệt, đến 4g30, ta làm chủ hoàn toàn đồn Đắc Đoa kiên cố, hai đại đội Âu - Phi bị xóa sổ, ta bắt sống 150 tên, thu 3 trọng liên 12,7; 2 cối 81; 10 trung liên; 33 tiểu liên và cadin; 3 súng ngắn; 3 vô tuyến điện; 20 tấn đạn dược các loại. Sau trận này Tiểu đoàn được Bác Hồ gửi thư khen và tặng Huân chương Quân công hạng nhất, Đại đội trưởng Lê Công Khai được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
 
ĐÁNH TAN TÁC ĐỒN PLERING
 
Sau chiến thắng Đắc Đoa, Trung đoàn 803 hành quân cấp tốc vượt núi băng rừng về đánh địch ở tây Phú Yên. Trên đoạn đường dài vừa đi vừa đánh địch, đến ngày 20/3/1954, cả trung đoàn vào đầu đường số 7 tiếp với đường 14 xuống thị xã Tuy Hòa. Khi trung đoàn đến gần sông Đăkcơdưng, gặp đồn Plering do quân ngụy chiếm giữ. Tại đây, chúng tăng cường một đại đội Âu - Phi nằm ngoài, có nhiệm vụ canh giữ khống chế đường số 7. Chúng tôi nhận được điện của trên cho biết, đồn Plering lúc bấy giờ còn có lực lượng mạnh của binh đoàn cơ động 100 mà địch vừa mới tăng cường chiều 20/3.
 
Lúc này đã 1g sáng ngày 21/3/1954. Trung đoàn trưởng Phan Hàm triệu tập gấp cuộc họp Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn, nhưng đồng chí Chính ủy đi họp vắng, nên chỉ còn đồng chí Nguyễn Nam Khánh là Trưởng ban chính trị. Hai đồng chí hội ý chớp nhoáng và đi đến thống nhất là phải đánh và quyết thắng. Quyết tâm đó được báo cáo về Quân khu và được chấp nhận.
Đúng 2g30 sáng 21/3/1954, các đơn vị 39, 59 và trợ chiến trung đoàn báo cáo xong phương án. Trung đoàn trưởng kiểm tra lần cuối cùng và ra lệnh phát hỏa. Trên chục khẩu cối của trung đoàn đua nhau nhả đạn tới tấp và rất chính xác vào đồn giặc. Trung liên đầu bạc của ta bắn như mưa, quân của binh đoàn 100 và đại đội Âu - Phi của giặc nằm ngoài công sự bị hỗn loạn; hỏa lực trong đồn của chúng bị dập tắt ngay từ đầu nên chúng không bắn trả lại được. Tiếng kèn vang lên thúc giục bộ đội ta nhất tề xung phong mãnh liệt. Bộ đội ta tấn công vào đồn, thấy giặc chết chồng chất như rạ, các nhà bạt dã chiến, xe pháo ngổn ngang, số địch còn sống sót vất vũ khí chạy vào rừng thoát thân. Khoảng 4g sáng, ta làm chủ trận địa hoàn toàn. Kết quả, địch công nhận chúng bị chết 936 tên, 20 xe bị phá hủy, 200 xe cơ giới và pháo binh bị hư hỏng nặng...
 
Chiến thắng Plering đã đập tan mưu đồ mở cuộc hành quân lớn xuống đường số 7 uy hiếp đập Đồng Cam của Pháp.
 
CHIẾN THẮNG SUỐI CỐI LẪY LỪNG
 
Sau chiến thắng Đắc Đoa, Tiểu đoàn 365 được Trung đoàn 830 cho tách khỏi đội hình trung đoàn để vượt sông Con về lại Phú Yên. Anh em tiểu đoàn rất mừng vì đã bao nhiêu ngày xa cách để lên Tây Nguyên bị đói cơm lạt muối. Khi chúng tôi về đến Kỳ Lộ, Đồng Xuân, được bà con đón tiếp như mẹ đón những đứa con đi xa lâu ngày trở về. Tiểu đoàn 365 được Trung đoàn phó Hà Vi Tùng trực tiếp chỉ huy, Tiểu đoàn trưởng là Phan Đình Dư và Chính trị viên là Cao Thượng Lương.
 
Tối ngày 20, sáng ngày 21/3/1954, toàn tiểu đoàn gồm 4 đại đội đã đến xã Xuân Quang, huyện Đồng Xuân và trú quân trong một khu rừng cạnh Hòn Ông. Tiểu đoàn đang cử người đi liên lạc với tỉnh để nắm tình hình, các đại đội đang nấu chè, Chính trị viên Cao Thượng Lương chuẩn bị nội dung động viên anh em, thì trinh sát tiểu đoàn phát hiện một đơn vị địch vừa rời khỏi vị trí trú quân qua đêm ở khu đất cao cách khoảng 3km. Chúng đang hướng về nơi Tiểu đoàn 365 trú quân. Cuộc hành quân này do tiểu đoàn ngự lâm quân số 2, còn gọi là “Con hổ xám” chuyên bảo vệ dinh Bảo Đại từ Đà Lạt mới ra, là một đơn vị thiện chiến, để phối hợp với một cánh quân có pháo binh tại La Hai, Phú Giang nhằm càn quét và tiến về căn cứ địa Phú Yên.
 
Đồng chí Hà Vi Tùng hội ý chớp nhoáng với Chính trị viên Cao Thượng Lương và lệnh cho đơn vị chuẩn bị đánh địch theo phương án đã vạch. Trung đoàn phó Hà Vi Tùng lệnh cho Đại đội 211 chặn đầu ở tây Hòn Ông, Đại đội 212 đánh lướt sườn từ chân núi phía nam ra đường mòn cạnh dòng suối có địch đang hành quân từ đông lên; chỉ huy Hà Vi Tùng, Tiểu đoàn trưởng Phạm Đình Dư sẽ trực tiếp ở 212 do đồng chí Phan Văn Nhạ làm chỉ huy đại đội; Đại đội 213 khóa dưới ở hướng đông.
 
Khoảng 13g cùng ngày, tốp đầu của địch rơi vào trận địa phục kích của ta. Đại đội 211 chặn đầu nổ súng đồng loạt. Trung liên, đại liên của ta nổ như mưa vào bọn đi đầu của địch, khiến chúng bị động lúng túng, nhiều tên chết và bị thương. Đại đội 212 nhanh chóng vận động xung phong lướt sườn dưới sự yểm trợ của Đại đội trợ chiến 214, kèn xung phong của Lê Hớn Thời vang giục giã. Đại đội 213 nổ súng khóa đuôi nên tiểu đội ngự lâm quân ngụy nằm trong tầm bắn.
 
Suốt 4 giờ liền ta quần địch trên một đoạn suối. Tiểu đoàn 2 ngự lâm quân của địch la hét, bỏ chạy tán loạn. Tên Tiểu đoàn trưởng Qui bị thương, hướng thẳng vào rừng trốn; tên trung úy đại đội trưởng Trần Văn Chánh cố xua quân chống cự thì bị dính đạn ta, chết tại chỗ; bọn sống sót kéo cờ trắng đầu hàng.
 
Đúng 18g ngày 21/3/1954, ta làm chủ hoàn toàn trận địa. Tiểu đoàn ngự lâm quân số 2 kiêu căng hung hãn của địch bị xóa sổ hoàn toàn. 123 tên chết, 90 tên bị bắt sống, nhiều tên bị thương vứt súng đạn chạy vào rừng tẩu thoát; ta thu 300 súng các loại, 8 máy vô tuyến điện và nhiều quân trang quân dụng khác.
 
Chiến thắng Suối Cối có tiếng vang lớn. Bọn địch cho rằng “anh Hai” đã về Phú Yên, nên quân – thầy các cứ điểm Sông Cầu, Chí Thạnh lung lay, bỏ chạy.
 
Tư lệnh Liên khu 5 tuyên dương Tiểu đoàn 365, nhân dân Phú Yên phấn khởi. Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh Phú Yên trực tiếp đến khen ngợi, biểu dương và tặng quà khuyến khích. Chiến thắng lẫy lừng này đã đi vào ca dao:
 
Ai qua Suối Cối mà xem
Xác giặc chồng chất như nêm đầy đồng
Ai qua Suối Cối đã từng
Phú Yên anh dũng diệt phường xâm lăng
 
Sau chiến thắng Suối Cối, cán bộ chiến sĩ lại tiếp tục hành quân vào nam Tuy Hòa, một chiến trường được chuẩn bị sẵn...
 
TRẦN THÀNH CHÍNH
(Chiến sĩ trực tiếp chiến đấu ở Đại đội 212, Tiểu đoàn 365)
 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #3 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 07:55:10 AM »

Địa đạo Gò Thì Thùng - vùng đất thép của nhân dân Phú Yên thời chống Mỹ
Trong cuộc chiến tranh thần thánh chống Mỹ xâm lược, nhân dân ta đã sáng tạo nhiều hình thức đánh giặc độc đáo, khiến cho chúng dù dựa vào quân đông, vũ khí hiện đại nhưng cuối cùng phải chuốc lấy thất bại cuốn cờ rút quân về nước. Từ lâu chúng ta được biết địa đạo Củ Chi (TP Hồ Chí Minh), địa đạo Vĩnh Mốc (Quảng Trị) là những địa danh nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ. Ở đó chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta được phát huy cao độ và nơi kẻ thù phải kinh ngạc trước một thế trận kỳ lạ mà chúng chưa hề được “tập dượt” ở một lớp huấn luyện nào trong cuộc chiến tranh hiện đại. Tại Gò Thì Thùng thuộc xã An Xuân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, quân và dân ta ở đây đã biết dựa vào địa hình thế đất xây dựng công trình địa đạo với một trận địa liên hoàn bao gồm hầm chông, cọc nhọn, giao thông hào… lập nên chiến công xuất sắc góp phần bẻ gãy kế hoạch “Năm mũi tên” trong cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 – 1966 đánh vào đồng bằng Khu V của đế quốc Mỹ.
 
 
Lối vào địa đạo Gò Thì Thùng - Ảnh: D.T.XUÂN
 
Năm 1964, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” đứng trước nguy cơ bị phá sản, Tổng thống Giônxơn quyết định triển khai quân viễn chinh Mỹ ồ ạt cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam, tiến hành thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Lính Mỹ có mặt ở miền Nam vào cuối năm 1964 là 26.000 người, đến cuối năm 1965 lên tới 180.000 người và 20.000 lính các nước chư hầu (1) cùng với lực lượng không quân và hải quân hùng hậu ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẵn sàng tham chiến. Trước tình hình đó Trung ương Đảng nhận định: “Mặc dù đế quốc Mỹ đưa hàng chục vạn quân viễn chinh vào miền Nam, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi” (2) và chỉ đạo cách mạng miền Nam “phải giữ vững và phát triển thế chiến lược tiến công địch” (3).
 
Phú Yên là tỉnh có phong trào Đồng Khởi nổ ra tương đối sớm ở Khu V (12/1960). Đến cuối 1964 hầu hết các huyện, xã trong tỉnh đã được giải phóng, chính quyền ngụy chỉ còn chiếm giữ vùng ven biển, ra sức củng cố đồn bốt bảo vệ các chi, khu quân sự đối phó các cuộc tiến công của quân giải phóng. Thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ liên tiếp đổ quân viễn chinh và chư hầu xuống chiến trường Phú Yên: 5 tiểu đoàn Mỹ, 7 tiểu đoàn Nam Triều Tiên, 1 tiểu đoàn lính công binh Úc và ra sức xây dựng căn cứ quân sự Đông Tác – Vũng Rô (4) với âm mưu chiếm lại vùng giải phóng, tiêu diệt lực lượng vũ trang ta, dồn dân lập ấp, củng cố chính quyền tay sai đang rệu rã.
 
Quán triệt tinh thần Nghị quyết 12 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên chỉ đạo các địa phương và lực lượng vũ trang tỉnh chuẩn bị sẵn sàng chủ động đánh địch, làm thất bại các cuộc càn quét của chúng, giữ vững vùng giải phóng. Vấn đề cấp bách đặt ra lúc này là bảo vệ căn cứ địa cách mạng vùng miền Tây của tỉnh, bằng mọi cách phải bám trụ, bám dân, xây dựng trận địa đánh giặc, chuẩn bị đối phó với âm mưu và kế hoạch mới của địch.
 
Ngày 24/4/1964 tại nhà đồng chí Lê Chí vùng 2 xã An Xuân, huyện Tuy An, Tỉnh ủy Phú Yên tổ chức cuôïc họp bàn những vấn đề quan trọng liên quan đến sự phát triển lực lượng cách mạng trong tình hình mới. Tham dự có đồng chí Đỗ Hòa Thái, Thường vụ Tỉnh ủy; đồng chí Huỳnh Là, Bí thư Huyện ủy Tuy An. Cuộc họp đã quyết định tiến hành đào địa đạo tại Gò Thì Thùng thuộc địa phận xã An Xuân, huyện Tuy An. Đây là vùng đất có bình độ cao, chất đất rắn, địa hình thuận lợi giáp vùng căn cứ cách mạng phía Tây của tỉnh. Tại cuộc họp, đồng chí Huỳnh Là đã xác định mục đích và quyết tâm trong việc đào địa đạo: “Âm mưu chiến tranh của địch không còn ở trạng thái như trước, hiện nay chúng nâng chiến tranh lên mức độ qui mô và ác liệt hơn để đánh ta nhiều mặt. Bọn chúng kết hợp nhiều loại quân: Không quân, Lục quân, Hải quân với vũ khí hiện đại, áp dụng chiến thuật binh 3, pháp 7. Ngoài ra chúng được Mỹ trang bị binh khí kỹ thuật mới nhất. Ta áp dụng chiến thuật dùng yếu đánh mạnh, đấu tranh lâu dài, thế mạnh của ta là nhân dân, du kích chiến, áp dụng vũ khí thô sơ để đánh thắng chiến tranh hiện đại. Vì vậy phải tạo một địa hình và thế trận kiên cố để đánh địch. Việc đào địa đạo là việc làm rất cần thiết và là chủ trương lớn của Đảng. Cần phải huy động sức dân các xã chủ yếu là xã An Xuân để đào địa đạo” (5). Như vậy, chủ trương đào địa đạo là chủ trương lớn của tỉnh Phú Yên để đối phó với chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ trên vùng đất Khu V lúc này.
  

Bên trong địa đạo Gò Thì Thùng - Ảnh: D.T.XUÂN
 
Gò Thì Thùng thuộc vùng 2, xã An Xuân nằm cạnh ranh giới 3 huyện: Tuy An, Đồng Xuân, Sơn Hòa, có độ cao 400m so với mực nước biển; chiều dài trải theo hướng bắc – nam gần 5km, chiều rộng theo hướng đông – tây là 4km. Vùng này tiếp nối căn cứ địa cách mạng của tỉnh Phú Yên về phía nam ở các xã Sơn Long, Sơn Định huyện Sơn Hòa. Từ nơi này có thể phóng tầm nhìn ra phía bắc các điểm địch đang đóng quân: La Hai – Đồng Xuân, thị trấn Sông Cầu, thị trấn Chí Thạnh hoặc phía nam có thể quan sát đến Tỉnh lỵ Tuy Hòa. Đây là vị trí quân sự có tầm chiến lược quan trọng án ngữ cửa ngõ đi vào vùng căn cứ cách mạng của tỉnh Phú Yên.
 
Sau khi có Nghị quyết Tỉnh ủy về xây dựng địa đạo Gò Thì Thùng, Tỉnh đội Phú Yên phối hợp Huyện đội Tuy An bắt tay vào việc tổ chức, huy động lực lượng khởi công. Ban chỉ huy xây dựng địa đạo được thành lập gồm:
 
- Đồng chí Đỗ Tấn Cảnh, Tỉnh ủy viên trực tiếp chỉ huy, chịu trách nhiệm đôn đốc công việc hàng ngày.
 
- Đồng chí Trần Bình, Đại đội trưởng đại đội 220 (lực lượng vũ trang tỉnh) phụ trách khâu kỹ thuật.
- Ủy ban mặt trận giải phóng xã An Xuân và đoàn thể các thôn được phân công phụ trách từng mảng:
 
+ Đồng chí Võ Minh, Bí thư chi bộ xã An Xuân làm trưởng ban thực hiện đào địa đạo.
 
+ Đồng chí Lê Mai, Phó bí thư chi bộ xã An Xuân làm phó ban.
 
+ Đồng chí Võ Đình Hà, xã đội trưởng làm thư ký theo dõi tiến độ thực hiện.
 
+ Đồng chí Phạm Dũng, trưởng ban an ninh xã chịu trách nhiệm an ninh.
 
+ Đồng chí Nguyễn Mỹ Hiệu, Bí thư nông hội xã chịu trách nhiệm huy động các đoàn thể tham gia.
 
+ Đồng chí Võ Đức Dương, Bí thư đoàn thanh niên chịu trách nhiệm huy động lực lượng thanh niên tham gia.
 
+ Đồng chí Lê Thị Nhương, cán bộ phụ nữ xã có nhiệm vụ phối hợp lực lượng phụ nữ với các đoàn thể khác, tổ chức học tập việc phòng gian bảo mật, ngụy trang công trình trong thời kỳ xây dựng.
 
+ Thôn trưởng 7 vùng trong xã được cử làm thành viên Ban tổ chức khu địa đạo gồm: Phan Xầy (vùng 1), Mai Văn Muôn (vùng 2), Nguyễn Lữ (vùng 3), Bùi Hải (vùng 4), Nguyễn Huệ (vùng 5), Phạm Văn Tương (vùng 6), Trần Ngọc Minh (vùng 7).
 
Các tầng lớp nhân dân xã An Xuân được tổ chức học tập, phổ biến tầm quan trọng công tác đào địa đạo nhằm mục đích bảo vệ căn cứ địa cách mạng, sẵn sàng đánh địch bảo vệ làng xóm, quê hương. Vì thế ai cũng hăn hái tham gia, góp công góp sức vào công trình vĩ đại này. Cả xã An Xuân được phiên chế thành 7 đoàn công tác theo 7 thôn; dưới đoàn là các tổ công tác (gồm 10 người). Thanh niên là lực lượng chính trong việc đào địa đạo, không phân biệt nam nữ. Trung niên từ 40 tuổi đến 60 tuổi vào rừng chặt gốc tre, cọc nhọn về làm gác. Người già phụ trách đan ki, làm thang, cần vọt. Lực lượng phụ nữ thiếu nhi thì vót chông, theo dõi mọi biến động có thể lộ công việc đào địa đạo để báo cho ban bảo vệ khu địa đạo xử lý. Ngoài ra chi bộ xã còn vận động nhân dân ủng hộ tre để đan ki, cây để làm gác, dầu đèn để thanh niên đi đào. Cấp huyện và tỉnh mỗi ban ngành đều cử 1 cán bộ cùng tham gia, kịp thời giải quyết những khó khăn phát sinh trong khi đào địa đạo.
 
Ngày 10/5/1964, việc đào địa đạo Gò Thì Thùng được khởi công. Đồng chí Trần Suyền (Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên) bổ nhát cuốc đầu tiên phát lệnh. Khu ủy Khu V cử đại tá tư lệnh Y Hơd tham gia chỉ đạo. Ban chỉ đạo hàng ngày đi kiểm tra, đốc thúc cán bộ, đảng viên và nhân dân đào địa đạo đúng theo kế hoạch nhằm đáp ứng nhu cầu đánh Mỹ lúc bấy giờ. Cứ 4 giờ chiều mỗi ngày, nhân dân, du kích An Xuân và các xã lân cận An Nghiệp, An Định, Sơn Long mang theo cuốc, xẻng, ki, rổ đất, đèn lồng đi đào địa đạo, khung cảnh thật nhộn nhịp nhưng yếu tố bí mật được đặt lên hàng đầu. Mỗi đêm lực lượng nhân công được huy động để đào là 500 người.                
 
Trước tiên là đào thành những giếng sâu 4 – 5m với đường kính 2m, các giếng cách nhau 10m. Khi đào xong giếng thì đào móc sâu vô phía trái hoặc phải 0,8m và bộ phận du kích, công binh Đại đội 220 phụ trách đào đường hầm để đảm bảo bí mật. Lực lượng đào đường hầm được chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 5 người đào từ hướng 2 giếng quay lại, vừa đào vừa dùng thước đo để khỏi lệch. Khi đã vào sâu khoảng 3m thì lắng nghe tiếng động của nhau để đào tới, cứ thế, khi nào hai bên gặp nhau, kể như đã thông một đoạn địa đạo. Sau khi đào xong đường hầm, từng tổ lại trở ra miệng giếng khoét sâu vào hướng ngược lại. Phía bên kia cũng đào từ giếng mới với các động tác như trên, cứ như vậy đường hầm được nối dài ra. Đường hầm cao 1,8m, rộng 0,8m đủ để người mang ba lô đi lại dễ dàng, cứ khoảng 15m có đào ngách cán chỏ làm chỗ tránh. Các lỗ thông hơi được khoét từ dưới lên xuyên vào các hốc cây cho không khí lọt vào lòng địa đạo. Đất đào được đưa vào ki, móc vào cần vọt kéo lên trên chuyển đi nơi khác hoặc trang trải ra trồng cỏ lên trên. Sau khi đào xong các đoạn địa đạo thì giếng được lấp kín, phủ đầy cỏ.
 
Bộ phận quan trọng của địa đạo là các miệng hầm, được trổ từ dưới lên để khỏi bị lở khi gắn nắp hầm. Nắp hầm địa đạo được thiết kế giống hầm bí mật, dùng tre cật đan dày, trồng cỏ lên trên, cứ 20m có một nắp hầm. Các miệng hầm được sử dụng cho du kích từ dưới lòng địa đạo xông lên đánh địch hoặc rút đi an toàn.
 
Toàn bộ địa đạo Gò Thì Thùng có 486 giếng đào, chiều dài 1.948m với các hệ thống hầm chỉ huy (dưới vườn thơm nhà ông Chầu), hầm chứa lương thực, vũ khí, nước uống dự trữ… có thể chống được đạn pháo và bom loại nhỏ. Điểm cao giữa Gò Thì Thùng được chọn làm nơi đặt vọng gác quan sát, xung quanh gò là hệ thống giao thông hào chằng chịt sâu 1,5m, rộng 1m chạy ngang dọc dài hơn 10km kéo dài ra đến bìa rừng và hàng trăm hố cá nhân chiến đấu. Các bãi đất trống được cắm chi chít chông tre và những cọc nhọn to bằng bắp chân chôn thẳng đứng để chống máy bay đổ bộ. Như vậy hệ thống địa đạo Gò Thì Thùng là một trận địa quân sự liên hoàn, một “tử địa” chờ kẻ thù đến để tiêu diệt, biểu hiện quyết tâm đánh Mỹ đến cùng của quân và dân Phú Yên.
 
 
Lối vào địa đạo Gò Thì Thùng - Ảnh: D.T.XUÂN
 Công trình địa đạo Gò Thì Thùng đến tháng 8/1965 thì hoàn thành. Nhân dân Phú Yên đã huy động trên 100.000 ngày công, chủ yếu là dân quân du kích các xã An Xuân, An Nghiệp, An Định, Sơn Long để xây dựng địa đạo. Việc hoàn thành khu địa đạo là một quyết tâm lớn của cán bộ, đảng viên và nhân dân Phú Yên mà trực tiếp là nhân dân xã An Xuân. Tại Đại hội chiến sĩ thi đua Quân khu V, đồng chí Lê Mai phó Bí thư chi bộ xã An Xuân được vinh dự thay mặt cho cán bộ và nhân dân các xã miền Tây Phú Yên nhận cờ do Khu ủy Khu V tặng về thành tích đào địa đạo Gò Thì Thùng.
 
Đầu mùa khô năm 1966, Mỹ bắt đầu mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất mang mật danh “Van-bua-ren” từ ngày 19/1 đến cuối tháng 4/1966 đánh vào Nam Phú Yên với trọng điểm là huyện Tuy Hòa 1. Lực lượng gồm lữ đoàn 1 sư đoàn 101 Mỹ, lữ đoàn lính thủy đánh bộ “Rồng xanh” Nam Triều Tiên, trung đoàn bộ binh 47 ngụy cùng với phi pháo, xe tăng, máy bay yểm trợ. Quân và dân Tuy Hòa đã chiến đấu anh dũng, đánh bại các cuộc càn quét của địch tiêu diệt 1.753 tên Mỹ, 1.105 lính Nam Triều Tiên và 544 lính ngụy. Đây là lần đầu tiên các lực lượng vũ trang ta ở Phú Yên đọ sức với lực lượng viễn chinh Mỹ với quân số đông, trang bị hiện đại, chiến đấu trên chiến trường đồng bằng nơi địch có điều kiện phát huy lợi thế về hỏa lực.
 
Thất bại lớn ở chiến trường Nam Phú Yên, địch sắp xếp lực lượng chuẩn bị mở những đợt phản công mới. Lãnh đạo Quân khu V và tỉnh Phú Yên quyết định mở chiến dịch hè 1966 kéo địch ra chiến trường Bắc Phú Yên để tiêu diệt. Chiến dịch diễn ra trong 2 đợt: Đợt 1 từ 15/5/1966 đến 31/5/1966; đợt 2 từ 1/6/1966 đến 30/6/1966. Trong chiến dịch này Quân khu V tăng cường cho Phú Yên 2 trung đoàn chủ lực: trung đoàn Trần Hưng Đạo (trung đoàn 20) và trung đoàn Ngô Quyền (trung đoàn 10).
 
Theo kế hoạch chiến dịch, đêm 23/6/1966, một số đơn vị bộ đội tỉnh phối hợp với bộ đội huyện Tuy An tiến đánh đồn Bà Cò (Xuân Quang – Đồng Xuân); đồng thời bố trí sẵn lực lượng ở vùng 1, 2, 4 xã An Xuân và vùng 11, 12 xã An Nghiệp chờ địch ra để đánh. Bộ chỉ huy trung đoàn Trần Hưng Đạo đặt tại nhà ông Lê Hữu Đức xóm Suối Bướm vùng 2 xã An Xuân để chỉ đạo trận đánh.
 
Đúng như dự đoán của ta, 9 giờ sáng ngày 24/6/1966, Mỹ ồ ạt đổ quân xuống Bằng Chính xã An Nghiệp liền bị ta chặn đánh cho đến tối. Sáng 25/6/1966 chúng đổ quân xuống vùng 2, 4, 5 và các gò cao xã An Xuân: Gò Thì Thùng, Gò Dũng, Gò Sống Trâu, Gò Sân Cu… Tại Gò Thì Thùng diễn ra cuộc chiến đấu hết sức ác liệt. Một tiểu đoàn Mỹ thuộc sư đoàn không vận số 1 từ Gò Sống Trâu chia thành nhiều cánh tiến lên Gò Thì Thùng. Tiểu đoàn 11 (trung đoàn Trần Hưng Đạo) và tiểu đoàn 7 (trung đoàn Ngô Quyền) bố trí sẵn tại địa đạo Gò Thì Thùng chặn đánh quyết liệt, diệt hàng chục tên địch. Quân Mỹ dùng 3 trận địa pháo Phú Tân, Xuân Phước, Chí Thạnh bắn dồn dập hàng ngàn quả, dùng hàng chục tốp máy bay trút bom xuống trận địa ta. Cứ mỗi đợt địch tập trung hỏa lực đánh phá quân ta rút vào địa đạo, chờ địch đến gần đồng loạt nổ súng. Một số nơi chiến sĩ ta dùng lưỡi lê đánh giáp lá cà thực hiện chiến thuật “Nắm lấy thắt lưng Mỹ mà đánh”, giành giật với chúng từng đoạn chiến hào. Có những tên Mỹ thấy chiến sĩ ta từ địa đạo bất thần xông lên, đầu súng lưỡi lê sáng loáng, chúng kinh hoàng dùng hai tay che mặt trước khi bị lưỡi lê xuyên qua người. Đồng chí Thanh, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 7 một mình dùng lê đâm chết 6 tên Mỹ.
 
Đến 14 giờ ngày 25/6/1966 địch đổ thêm 34 lượt máy bay trực thăng HU1A xuống Gò Dũng cách Gò Thì Thùng 500m về phía đông bắc tấn công vào trận địa ta. Đại đội 7 trung đoàn Ngô Quyền nhanh chóng đánh phủ đầu khi máy bay vừa sà xuống đổ quân, bắn rơi 2 chiếc và diệt nhiều tên Mỹ.
 
Ngày 26/6/1966 lính Mỹ tăng cường lực lượng từ Quy Nhơn vào, liên tiếp mở 12 đợt tấn công. Quân ta dựa vào hệ thống địa đạo, giao thông hào bẻ gãy các đợt tiến quân của địch. Theo lời anh Tôn Trung – Đại đội phó Đại đội 220 kể lại: Bộ đội ta dùng lưỡi lê đánh cận chiến với địch trên các chiến hào, nhiều tên Mỹ to lớn áo mũ kềnh càng vật lộn với quân ta tưởng như “lấy thịt đè người” nhưng cuối cùng phải bỏ mạng, nhiều tên khác bị sụp hầm chông tre kêu la inh ỏi. Quân ta kiên quyết giữ vững trận địa. Đến tối ngày 26/6/1966, quân ta chủ động rút khỏi địa đạo Gò Thì Thùng qua vùng An Lĩnh, Sơn Long sau khi đánh thiệt hại nặng sư đoàn không vận số 1 của Mỹ.
 
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Bảy, 2010, 08:52:02 AM gửi bởi tuanquoc19 » Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #4 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 07:55:50 AM »


Như vậy, cuộc chiến đấu ác liệt trong 2 ngày tại khu vực Gò Thì Thùng, lực lượng chủ lực Quân khu V phối hợp với lực lượng bộ đội địa phương Phú Yên dựa vào công trình địa đạo chiến đấu dũng cảm tiêu diệt 378 tên Mỹ, bắn rơi 6 máy bay lên thẳng (6). Trận đánh này, mặc dù quân Mỹ với lực lượng đông, vũ khí hiện đại, cơ động nhưng vẫn phải bị động đối phó với ta, đưa quân vào chiến trường rừng núi do ta bày sẵn thế trận. Địa đạo Gò Thì Thùng trở thành địa danh lịch sử của nhân dân Phú Yên.
 
Cùng với thắng lợi chiến dịch hè Phú Yên năm 1966, chiến thắng Gò Thì Thùng thể hiện ý chí của quân và dân Phú Yên quyết đánh Mỹ, góp phần làm thất bại cuộc phản công chiến lược mùa khô của chúng. Nhân dân An Xuân và huyện Tuy An cho đến nay vẫn còn truyền tụng mấy câu thơ ca ngợi chiến công vang dội này:
 
Thì Thùng địa đạo những căn hầm
Hóa thành lũy thép dưới tầm bom rơi
Đánh cho giặc Mỹ tơi bời
Hơn trăm xác giặc chết phơi đầy gò.
 
Ngày nay trở lại khu địa đạo Gò Thì Thùng hơn 40 năm sau cuộc chiến, nhưng vết tích của trận đánh thuở nào vẫn còn, mặt đất đó đây với những chiến hào, một vài cửa hầm địa đạo như khắc ghi chiến thắng năm xưa. Những người tham gia trận đánh ngày nào nay đã thành người thiên cổ, một số trở thành những cụ già tóc bạc. Họ đều có chung một niềm tự hào về vùng đất lịch sử – đất thép Gò Thì Thùng – khi đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Trên cơ sở đó, địa đạo Gò Thì Thùng sẽ được các cấp có thẩm quyền có kế hoạch bảo tồn, trùng tu, gìn giữ để cho bao lớp con cháu sau này mãi mãi tự hào về chiến công của cha anh, tự hào về miền đất thép trên chiến trường khu V ngày nào.
 
Thạc sĩ ĐÀO NHẬT KIM
 
(1). Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 3, NXB GD 1998, trang 200
(2) (3) – Trích Nghị quyết hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 12 (12/1965)
(4). Lịch sử Phú Yên kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên 1996, trang 114
(5) Tuy An theo dòng lịch sử – Đảng bộ huyện Tuy An 1997. Trang 150
(6) Phú Yên 30 năm chiến tranh giải phóng, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Phú Yên, 1993, tr.275
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #5 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 09:24:44 AM »

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 4 lần tôi tháp tùng với thủ trưởng đi Hà Nội. Có lần đi từ cơ quan Liên khu ủy 5 ra đến Hà Nội đi mất một tháng 20 ngày, nhưng cũng có lúc đi ô tô chỉ 10 ngày. Nhưng có một chuyến đi tôi không bao giờ quên vì đó là chuyến đi bộ dài ngày nhất, đi bộ gần 3 tháng trời từ Trung Lào đến Hạ Lào. Đó là chuyến đi mở đường vào miền Nam của đồng chí Trần Lương, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa II, Bí thư Liên khu ủy 5 đầu năm 1961.

 



Bộ đội Phú Yên trên đường ra chiến dịch Xuân 1975 - Ảnh: TRẦN KHẢ QUANG

 

Sau Hội nghị Trung ương Đảng khóa II lần thứ 15 năm 1959, việc mở đường vào miền Nam vô cùng bức thiết. Thời điểm lúc bây giờ đường dây Nam - Bắc chỉ có một con đường duy nhất là đường đi qua làng Ho chuyên trách việc đưa cán bộ từ miền Nam ra miền Bắc và ngược lại. Chúng tôi thường gọi đây là sợi chỉ đỏ nối liền bờ Nam ra bờ Bắc sông Bến Hải. Các lớp cán bộ đi B từ các năm 1959 đến năm 1960 đều đi qua đường này. Anh Nguyễn Phụng Minh, Khu ủy viên Khu 5 khi còn sống thường nói con đường này là con đường đặc biệt, là con đường nhớ đời của cán bộ khi đã đi qua… Nói là con đường nhưng thật ra không có đường. Từ miền Bắc đi vào thì phải nửa ngày đường leo núi ở bờ Bắc sông Bến Hải, đi đến dãy núi cao nhất. Từ đó không được đi dép cao su và đi cả chân cả tay xuyên rừng, trụt xuống một con suối lớn. Đôi dép cao su luồn vào thắt lưng cho chắc vì đi bộ đôi dép quý như vàng và tuyệt đối không được để rơi vãi một cái gì, nhất là mấy hạt gạo để địch biết có dấu người đi qua lại. Thường là 12 giờ trưa mới bắt đầu xuống đầu nguồn suối và lội suối cho đến 5 giờ chiều mới gần giáp quốc lộ 9 Đông Hà đi Sa-va-na-khet của Lào. Nghỉ ở đó cho đến 9 giờ tối thì bắt đầu tiếp tục theo suối đi qua cống dưới đường 9 và cũng tiếp tục theo suối đi ra bờ Bắc sông Bến Hải. Ở đó có một chiếc thuyền độc mộc của dân làng Ho chờ sẵn. Nếu thuận lợi thì 9 giờ qua sông Bến Hải, nhưng thường là 10 giờ tối thuyền mới từ Bắc sông Bến Hải đi qua bờ Nam sông Bến Hải. Mỗi đêm thuyền có thể đi qua lại 10 chuyến, mỗi chuyến đi được 3 người, mức cao mỗi đêm đi được 30 người. Qua sông Bến Hải vẫn phải tiếp tục đi chân không và leo núi đến 3 giờ sáng mới treo võng ngủ. Cơ sở làng Ho phải dậy sớm kiểm tra lại đường, xóa bỏ các dấu vết đề phòng địch phát hiện. Tôi trao đổi với đồng chí Phan Du, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Vĩnh Linh nên tính cách làm sao tăng được số lượng đi B có thể gấp đôi, nhưng đồng chí nói địch kiểm soát và thường lùng quét, rất khó có thể tăng lên.

 

Đồng thời, Đoàn 559 triển khai chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu cũng mở một đường xuyên núi giáp ranh biên giới Việt Nam và Lào, dùng lực lượng vũ trang chuyển tải vũ khí vào Liên khu 5, vừa đánh địch càn quét vừa gùi thồ, nhưng sau hơn một năm triển khai chỉ đưa được vào trạm tiếp nhận vũ khí của Liên khu 5 ở A Xo, A Lưới 70 tấn vũ khí.

 

Đồng chí Trần Lương (tức Trần Nam Trung) mời đồng chí Trần Văn Trà, Phó Tổng tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Đôn, Tư lệnh Quân khu 4 bàn việc khắc phục các khó khăn của việc mở đường vào miền Nam, nhất trí báo cáo Bộ Chính trị xin Bộ chính trị gặp các đồng chí bạn Lào và xin mở đường qua đất Lào. Bộ Chính trị nhất trí đề nghị của các đồng chí Liên khu 5 và Bộ Tổng tham mưu, cử đồng chí Trần Lương đi gặp và làm việc với anh Bảy (tên thường gọi đồng chí Kay-xôn Phôm-vi-hãm - Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào). Anh Bảy nhất trí đề nghị của Liên khu 5 và Bộ Tổng tham mưu quân đội nhân dân.

 

Vùng căn cứ cách mạng của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào rất vững mạnh nhưng chưa có sự nối liền giữa Trung Lào với Hạ Lào, anh Bảy yêu cầu ta giúp đỡ bạn xây dựng một số mặt ở vùng căn cứ của bạn. Cái khó là có 2 đồn địch trên đường 9 ở Mường Phìn và Sê-pôn, hai đồn cách nhau 60km. Đồng chí Nguyễn Đôn quyết định điều một trung đoàn của quân khu 4 đánh đồn Sê-pôn và ra lệnh cho tiểu đoàn 19, tiểu đoàn con cưng của Quân khu 5 cũ đánh đồn Mường Phìn. Tình hình ở Lào lúc đó có lực lượng trung lập do Kông-le cầm đầu nổi dậy. Các đồng chí lãnh đạo của ta quyết định lực lượng đi qua đất bạn đều mặc quân phục của lính Kông-le. Anh Nguyễn Đôn mời cựu chính ủy Quân khu 5 Trần Lương làm công tác tư tưởng cho tiểu đoàn 19.

 

Và cuộc mở đường vào miền Nam đi qua đất Lào được bắt đầu do đồng chí Trần Lương dẫn đầu. Chúng tôi ăn mặc theo trang phục lính Kông-le, xe ô tô được bịt kín từ Hà Nội vào đến Đô Lương tỉnh Nghệ An rồi đi lên phía tây theo đường huyện Kỳ Sơn qua tỉnh Khăm Muộn của Lào. Không có giao liên dẫn đường, nhưng rất quý là đoàn đồng chí Trần Lương có giấy giới thiệu của anh Bảy. Dựa vào bản đồ, chúng tôi nhờ dân Lào dẫn đường từ buôn này đến buôn khác theo hướng tiến vào Nam. Bộ Tổng tham mưu sử dụng máy bay Liên Xô cũ tiếp tế hậu cần cho đoàn đồng chí Trần Lương, đoàn đồng chí Nguyễn Đôn và tiểu đoàn 19 trên đường từ Khăm Muộn vào đến đường 9. Đoàn đồng chí Trần Lương đi đầu còn có nhiệm vụ làm dấu đường cho đoàn đồng chí Nguyễn Đôn và lực lượng vũ trang cùng đi với đồng chí Nguyễn Đôn. Do chỉ dựa dân dẫn đường, nên cuộc hành quân hơi chậm. Sau hơn 1 tháng chúng tôi mới đến đường số 9.

Tiểu đoàn 19 mặc quần áo lính Kông-le tiến hành vây đồn Mường Phìn. Lính của Chính phủ Lào bị ta bao vây hoảng sợ bỏ quần áo lính dựa vào gia đình chạy trốn vào rừng. Do đó khi quân ta tiến vào đánh chiếm đồn thì chỉ còn là một cái đồn không có lính. Đồng chí Trần Lương gặp mấy đồng chí bạn gợi ý ta nên dùng loa gọi chúng về hàng, nếu ngoan cố bộ đội ta sẽ đánh tiêu diệt. Bọn lính Lào lần lượt ra hàng. Đồng thời, một trung đoàn của ta do đồng chí Hạp làm Trung đoàn trưởng đánh diệt và chiếm đồn Sê-pôn. Chúng tôi dùng xe ô tô địch chạy từ Mường Phìn đến Sê-pôn và chạy từ Mường Phìn lên Mường Pha-lan quê hương của Kông-le. Theo chỉ thị của đồng chí Trần Lương, tất cả chiến lợi phẩm đều giao cho các đồng chí bạn quản lý, ta không được đụng đến. Rất nhiều mùng tuyn và bi đông Mỹ, các đồng chí bạn yêu cầu ta nhận mỗi người 1 cái nhưng hơn 10 đồng chí của đoàn tôi đến Sê-pôn chỉ nhận mỗi người 1 cái bi đông Mỹ để dùng trong cuộc tiếp tục hành quân về Liên khu 5. Để bảo đảm sức khỏe cho đồng chí Trần Lương, chúng tôi xin bạn con ngựa của tên đồn trưởng Mường Phìn để anh dùng trên đường về lại Liên khu 5. Con ngựa này rất khôn, không chịu phục tùng những người chưa biết cỡi ngựa và rất thích ăn xôi.

 

Nhân dân Lào đón đồng chí Trần Lương và đoàn chúng tôi hết sức nhiệt tình, thể hiện rất sâu đậm tình đoàn kết đặc biệt Lào - Việt. Lúc đầu tôi cứ nghĩ cả tháng ăn xôi thì làm sao chịu được, nhưng dần dần chúng tôi ăn quen và thấy cũng ngon, nhất là mấy hôm có thức ăn ngon. Đồng chí Khịa người quê Bình Thuận làm quản trị cho đoàn luôn mua được gà và mua toàn gà trống, vì mỗi lần vào làng đồng chí đều nói ò ó o nên dân làng tưởng bộ đội ta thích mua gà trống. Phát hiện việc này tôi dặn đồng chí Khịa, lần sau nên nói tục tục - tục tác… thì đúng là mua được nhiều gà mái. Đồng chí Khịa hy sinh sau khi về đến Liên khu 5, nhưng cái tính vui nhộn và lạc quan cách mạng của đồng chí tôi không thể nào quên khi nhớ lại chuyến đi này.

 

Ở Mường Phìn hơn 1 tuần, đoàn đồng chí Trần Lương được các đồng chí bạn cho thức ăn hộp: mắm ruốc, cá hộp, nước mắm Đài Loan…

 

Từ Mường Phìn, chúng tôi theo đường ô tô địch bỏ lâu ngày vào cầu Xu-pha-nu-vông (cầu này do đồng chí Xu-pha-nu-vông xây).

 

Vào đến Đất chưng Hạ Lào, đoàn đồng chí Trần Lương cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình thắm tình đồng chí của nhân dân và cán bộ Lào, tổ chức vượt sông về huyện 40 của tỉnh Kon Tum.

Nam nữ thanh niên huyện 40 rất ham học chữ quốc ngữ, nhưng thiếu giấy để học. Chúng tôi xé vở cho giấy trắng cho thanh niên học.

 

Một số thanh niên người dân tộc Dẻ đã đi bộ đội ta hỏi đồng chí Trần Trọng Tân đi phép chỉ một ngày về gặp vợ mà có con, dân làng không chấp nhận và cho đó là con của ma, đồng chí kiên trì giải thích làm nhiều thanh niên rất mừng.

 

Tôi tranh thủ đem tiểu thuyết Ruồi Trâu tôi mua ở Hà Nội trước khi đi ra đọc. Có lẽ đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên tôi đọc, càng đọc càng thấy hay và luôn như được tăng thêm nghị lực cách mạng. Thấy tôi đốt ngo đọc tiểu thuyết, đồng chí Trần Lương cũng đốt ngo đọc tiểu thuyết Ruồi Trâu.

 

Chuyến đi mở đường vào miền Nam đầu năm 1961 qua đất Lào đã đi vào lịch sử như một cái mốc quan trọng về mở đường từ miền Bắc vào miền Nam, tạo cho ta mở rộng đường dây Bắc - Nam, không chỉ đường bộ đi lại dễ dàng hơn nhiều, mà ta mở được một tuyến đường ô tô đi từ miền Bắc vào miền Nam, tiếp tế vũ khí cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Tuy địch phát hiện và đánh phá ác liệt, nhưng đường vận tải ô tô tiếp tục được củng cố và mở rộng cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

 

Do quen thạo đường Trường Sơn, được Khu ủy tin tưởng, tôi 2 lần đi Hà Nội nhận hàng Trung ương chi viện cho Khu 5. Một lần đi nhận 6 chiếc xe “Oát” của Trung ương cho Khu 5. Một lần đi nhận 6 thùng tiền ngụy và đôla. Nhận 6 xe “Oát” và tiền TW cho Khu 5, đồng chí Trần Kiên, Ủy viên Ban Thường vụ Khu ủy 5, Trưởng ban Kinh tài Khu ủy nói: “Cách làm của mày tao nghe hơi mạo hiểm và rất may đều an toàn”.

 

HUỲNH TRÚC

Nguyên Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Phú Yên
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #6 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 09:26:37 AM »

Sămbrăm và phong trào chống Pháp những năm 1935-1939
Kỳ 1: CUỘC ĐỜI SĂMBRĂM

Sămbrăm là người dân tộc Chăm tên thật là KsoLơ, dân làng gọi là Ma Chàm (cha của Chàm) theo tập tục khi đã sinh người con đầu. Cũng có tài liệu viết Sămbrăm tên là Mang Lơ, Mang Chàm, Hội Chàm. Ông sinh vào khoảng những năm đầu thập niên 70 thế kỷ XIX tại buôn Suối Ché, tổng Bầu Bèn, nay là thôn Tân Hải, xã Phước Tân (huyện Sơn Hòa).

 



Nhà ngục Buôn Ma Thuột, một trong những nơi giặc Pháp giam cầm Sămbrăm – Ảnh: HỮU AN

 

Buôn Suối Ché cùng nhiều buôn làng khác ở gần dãy núi La Hiên miền Tây Phú Yên đã từng là hậu cứ của phong trào Tây Sơn vào cuối thế kỷ XVIII, phong trào Cần Vương chống Pháp ở Phú Yên vào cuối thế kỷ XIX, cuộc khởi nghĩa Võ Trứ, Trần Cao Vân (1898 – 1900). Sămbrăm sinh ra và trưởng thành trên vùng đất qua bao lần là căn cứ địa của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Điều đó có tác động mạnh mẽ đến việc hình thành ý thức chống thực dân Pháp ở ông. Từ lúc còn là thanh niên, Sămbrăm đã từng tham gia phong trào chống pháp do Nguyễn Hào Sự tổ chức và ủng hộ khởi nghĩa Võ Trứ.

 

Trước khi tổ chức phong trào chống Pháp, Sămbrăm là một thầy cúng có uy tín. Ông thường đi lại nhiều nơi ở miền núi và đồng bằng. Sự giao du, tiếp xúc rộng rãi ấy giúp Sămbrăm thấy được cảnh cơ cực lầm than của đồng bào do ách áp bức, bóc lột tàn bạo của thực dân phong kiến. Ông cũng thấy được nơi đồng bào ước mơ chính đáng là đánh đuổi giăïc Pháp, đòi lại quyền tự do làm ăn sinh sống, không phải đi phu, nộp thuế. Từ đó, Sămbrăm quyết định tổ chức lực lượng đánh đuổi giặc Pháp, giành độc lập cho các dân tộc. Những hoạt động chống Pháp bắt đầu diễn ra vào đầu năm 1935, để quy tụ và đoàn kết nhân dân xây dựng lực lượng, Sămbrăm thiết lập đàn cúng Giàng và tổ chức lễ rải nước phép. Thông qua hoạt động đó, Sămbrăm đã thông báo cho những người đến dự biết mục tiêu chống Pháp của mình, ai tán thành mục tiêu này, người đó trở thành thành viên của phong trào. Họ được nhận chức sắc và huấn thị rồi trở về buôn làng, thực hiện mục tiêu khởi nghĩa.

 

Ngôi nhà sàn rộng lớn của Sămbrăm trở thành nơi tập hợp dân làng đại biểu các làng, các dân tộc gần xa. Các buôn làng Ê đê, Ba na, Chăm ở miền núi Phú Yên đều hướng về Sămbrăm. Phong trào lan rộng đến các tỉnh Tây Nguyên và vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía bắc Phú Yên. Người Ba na từ  Vân Canh, An Lão (Bình Định) người H’Rê, Ca Dong, từ Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng (Quảng Ngãi), người Kor, Xơ Đăng từ Trà My, Phước Sơn (Quảng Nam) vượt hàng trăm cây số đường rừng để đến với Sămbrăm. Người dân ở các buôn làng gần thì đi bộ, ở các buôn làng xa dùng ngựa, voi, có người phải qua hành trình hàng tháng mới đến được buôn Suối Ché. Các đoàn người càng về sau càng đông, nối tiếp nhau kéo về miền núi Phú Yên(1).

 

Công sứ Pháp ở Phú Yên nhiều lần đi đến thị sát tình hình. Sămbrăm giải thích đó là ý của Giàng, là phong tục tập  quán của đồng bào Thượng, phải cúng trời khi nắng hạn, mưa dầm thì mùa màng mới tươi tốt, cây cối muôn loài mới mong sống được. Đó cũng là lập luận mang tính hợp pháp để bọn thực dân không thể bắt bẻ, ngăn cấm Sămbrăm thực hiện ý định của mình (2). Các đại biểu đến với Sămbrăm đều mang theo một số xu đồng do dân làng quyên góp, một ít lễ vật, và khi ra về họ mang theo một chai nước phép. Số xu đồng mà các làng gần xa góp lại, có người cho rằng Sămbrăm định mua vũ khí cho cuộc chiến đấu. Có ý kiến đoán rằng bằng cách mỗi người góp một xu, Sămbrăm tính ra được số người tham gia phong trào. Còn thứ nước phép ban phát thực ra là nước sông Cà Lúi. Nó có tác dụng truyền bá rộng rãi, cổ vũ phong trào và như mối liên hệ giữa buôn làng này với buôn làng khác, dân tộc này với dân tộc khác, làm cho phong trào ngày càng có quy mô rộng lớn lan xa, và cuộc đấu tranh phát triển với một khí thế mạnh mẽ (3).

 

Trước những hoạt động yêu nước có tiếng vang rộng lớn của Sămbrăm, năm 1936, công sứ Pháp tại Đắk Lắk đã cử đồn trưởng cảnh sát Buốc- gơ -ri (Bougerie) đến vây bắt ông đem về giam tại nhà giam Buôn Ma Thuột. Trong phiên tòa ngày 2/9/1938, tòa án phong tục thiểu số tỉnh Đắk Lắk xử  Sămbrăm 10 năm tù giam và buộc nộp phạt 500 đồng (4). Sămbrăm bị thực dân Pháp giam cầm ở nhiều nơi như nhà tù Buôn Ma Thuột, nhà lao Sông Cầu, nhà lao Thanh Hóa… Mãi đến năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông mới được trả tự do.

 

Cách mạng Tháng Tám thành công, Sămbrăm ngoài 70 tuổi, vẫn tiếp tục làm công tác cách mạng, ông tham gia Mặt trận Liên việt tỉnh Phú Yên và Mặt trận Liên việt huyện Đồng Xuân. Ngôi nhà của ông là nơi cán bộ công tác ở địa bàn miền Tây Phú Yên và đơn vị vũ trang trung đoàn 84 thường xuyên đi lại làm việc, ăn nghỉ, được cả gia đình ông quan tâm giúp đỡ (5). Sămbrăm mất năm 1949.

 

(còn nữa)

KIM CHI - HỮU AN
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #7 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 09:29:31 AM »

Sămbrăm và phong trào chống Pháp những năm 1935 -1939
Kỳ 2: PHONG TRÀO SĂMBRĂM Ở MIỀN TRUNG - TÂY NGUYÊN


Sau khi tiếp tục tinh thần chống Pháp và nhận nước thánh từ Sămbrăm, các đại biểu của buôn làng trở về vận động đồng bào tổ chức những cuộc đấu tranh ngay tại quê hương. Phong trào đồng loạt nổ ra ở miền tây các tỉnh Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam và các tỉnh Tây Nguyên. Người ta gọi phong trào này là Phong trào Sămbrăm, có nơi gọi là phong trào xu nước hay nước xu đỏ, cũng có nơi gọi lập phong trào lấy nước phép đánh Tây.

 

Sông Cà Lúi, nơi Sămbrăm tắm mát thuở thiếu thời. – Ảnh: K.DUY

 

Ở Phú Yên, thanh niên đồng bào Chăm, Ba na ở vùng Thồ Lồ, nay thuộc xã Phú Mỡ huyện Đồng Xuân, đã náo nức luyện tập bắn cung, ném lao chuẩn bị vũ khí và phương tiện chiến đấu, kéo đến xin chỉ thị của Sămbrăm để tiến đánh đồn Pháp, nhưng cuộc tập kích chưa kịp nổ ra thì Sămbrăm bị giặc Pháp bắt.

 

Mặc dù Sămbrăm - vị thủ lĩnh tối cao bị bắt, nhưng phong trào chống Pháp vẫn không ngừng phát triển, biến thành những cuộc đấu tranh vũ trang. Đồng bào vùng Thồ Lồ kiên quyết không hợp tác với giặc Pháp, đấu tranh không đi làm xâu, không cống nạp các loại vật phẩm theo yêu cầu của Pháp. Quân đội Pháp nhiều lần kéo đến chinh phục  vùng này nhưng đều thất bại. Từ đó, Thồ Lồ nổi lên như một hình ảnh thần kỳ, danh tiếng dội vang khắp vùng chung quanh. Trong suốt quá trình cai trị, thực dân Pháp không hề thiết lập được chính quyền tay sai tại vùng Thồ Lồ (6).

 

Tại Kon Tum và Gia Lai, phong trào Sămbrăm phát triển thành những cuộc đấu tranh vũ trang rất sôi nổi của người Xơ Đăng ở Đắc Tô, Đắc Glây, Tumơrông, Công Plông, của người Ba na ở vùng An Khê, Kannát, Đắc Bot. Thực dân Pháp phải huy động 4 tiểu đoàn đến đàn áp cả năm trời mà vẫn không dập tắt được. Tại Côngplông, phong trào nước xu do ông Thuần lãnh đạo được toàn thể nhân dân trong vùng hưởng ứng. Trong những năm đầu, ông Thuần phát động phong trào bất hợp tác với giặc, không đi phu, không đóng thuế, không đi lính cho Pháp. Đến năm 1936, ông xây dựng lực lượng vũ trang công khai chống giặc. Quân Pháp mở nhiều đợt tấn công vào Côngplông nhưng đã bị nghĩa quân chống trả mãnh liệt. Đặc biệt, với chiến thắng Con Biêu năm 1937, nghĩa quân đã bẻ gãy được cuộc tấn công quy mô của địch.

 

Tại các vùng Lonki, Paklao, xã Panran, đồng bào Xơ đăng nhanh chóng xây dựng lực lượng vũ trang, lập làng chiến đấu, đặt bẫy gài chông chống lại giặc Pháp. Cuộc chiến đấu diễn ra liên tục và sôi nổi, nghĩa quân đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch, làm chết và bị thương nhiều tên xâm lược và một chánh tổng tay sai đã bị nghĩa quân trừng trị.

 

Đặc biệt trong các năm 1936-1937, cuộc khởi nghĩa vũ trang do ông Đăng lãnh đạo đã huy động phần lớn các chánh tổng, chủ làng thuộc các huyện Đắc Tô, Đắc Glây tham gia. Sau khi thành lập lực lượng vũ trang, ông Đăng lấy làng La Luar quê hương ông làm căn cứ, xây dựng phòng tuyến cắm chông trên sông Đắc Pao (chạy từ Đắc Tô đến Đắc Glây), bọc quanh căn cứ  La Luar khá vững chắc. Tất cả thanh niên trong các huyện Đắc Tô, Đắc Glây đều được huy động vào lực lượng nghĩa quân, ngày đêm canh gác, bố phòng cẩn mật quanh phòng tuyến. Tại căn cứ này, vào đầu năm 1939, lực lượng khởi nghĩa đã tổ chức một cuộc chiến đấu quyết liệt với một lực lượng lớn quân đội Pháp có trang bị hỏa lực mạnh.

 

Tại Đắk Lắk, phong trào Sămbrăm phát triển đều khắp trong tỉnh. Ở các vùng người Ê đê, mỗi buôn đều có lực lượng vũ trang, lấy lực lượng tự vệ công khai làm nòng cốt. Đồng bào rèn giáo mác, làm cung tên, mua súng kíp để chờ ngày khởi nghĩa. Ở khu vực nguời M’Nông (huyện Lak) thủ lĩnh N’Yan tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang khắp các buôn làng người M’Nông Rlăm, Mnông Gar và biến núi Yang Krinh thành căn cứ địa vững chắc. Công sứ Đắk Lắk mở nhiều cuộc càn quét vào căn cứ Yang Krinh quyết bắt cho được N’Yan, đàn áp phong trào, nhưng các cuộc hành quân của chúng đều thất bại trước sự chống trả mãnh liệt của nghĩa quân. Mãi về sau, núi Yang Krinh vẫn là vùng bất khả xâm phạm của người M’Nông.

 

Ở huyện Vân Canh tỉnh Bình Định, phong trào Sămbrăm phát triển đến các vùng thuộc xã Canh Sơn và Thừa Lãnh. Đồng bào các địa phương rầm rộ đi lấy nuớc thần để cầu mong khỏe mạnh, giàu có, thực dân Pháp sẽ bỏ đi, không còn cảnh sưu thuế. Người ta dùng hình tượng dê trắng, trâu trắng (ám chỉ thực dân Pháp), heo xấu (chỉ bọn phong kiến tay sai), vận động đồng bào các dân tộc đoàn kết đấu tranh chống thực dân, phong kiến, bỏ những tập tục lạc hậu, phạt vạ. Phong trào có ảnh hưởng mạnh mẽ, nhiều cuộc đấu tranh du kích nổ ra, mặc dù bị địch khủng bố dã man, song phong trào này vẫn kéo dài đến năm 1939.

 

Ở Quảng Ngãi, từ năm 1937, nhân dân các dân tộc miền tây của tỉnh đã tham gia phong trào Sămbrăm. Quyết liệt và mạnh mẽ nhất là đồng bào Cor ở Trà Bồng do Phó mục Gia đứng đầu, trung tâm là vùng núi Cà Đam. Mùa hè năm 1938, nhân dân các dân tộc Trà Bồng dưới sự chỉ huy của ông Phó mục Gia, Đinh Hốt… đã kéo về châu lỵ Trà Bồng đốt phá nhà lao, giết Chánh Tam, tay sai gian ác của địch và đánh đồn Tràø Bồng. Tiếp đến đầu năm 1939, nghĩa quân  dưới sự chỉ huy của các ông Đinh Chân, Đinh Nhâm, Đinh Bói phục kích đánh địch tại Gò Rô, giết một số lính Pháp đi càn quét các làng quanh vùng Tà Dục. Bọn địch càn lên làng Khuông, bị quân ông Đinh Rức chặn đánh tại Kônglăng. Tháng 10/1939, nghĩa quân các ông Đinh Hốt, Đinh Na chặn đánh địch đi càn quét làng Tà Dục tại đèo Tà Ớt, buộc địch phải bỏ cuộc càn quét. Từ đó trở đi, địch không còn kiểm soát nhiều làng xã ở vùng cao miền tây Quảng Ngãi.

 

Tại Quảng Nam, đồng bào các dân tộc Xơ đăng, Ca dong ở Trà My, Phước Sơn hưởng ứng mạnh mẽ phong trào nước xu dưới sự lãnh đạo của các thủ lĩnh địa phương là ông Điền, ông Đúc. Cuối năm 1937, đồng bào ở các bản làng thuộc các xã Trà Nam, Trà Linh, Trà Cang, Trà Mai… (huyện Trà My) rào làng, làm lễ cúng Giàng và tổ chức lực lượng nổi dậy chống thực dân Pháp. Đầu năm 1938, bằng vũ khí cung nỏ, lực lượng khởi nghĩa đã lập được chiến công tại dốc Dược, giết nhiều tên địch, trong đó có một sĩ quan chỉ huy, đồng thời làm phá sản cuộc hành quân lớn của giặc Pháp lên vùng cao Trà My. Sau đó, đồng bào Ca dong làng Tu Du dưới sự chỉ huy của Xen Đung đã chủ động bố trí trận địa, phục kích tại Non Đoan, chặn đánh quân Pháp khi chúng kéo vào làng Tu Du. Bị đánh bất ngờ, giặc Pháp hốt hoảng, tháo chạy về đồn Trà My.

 

Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp do Sămbrăm phát động và tổ chức vào nửa cuối thập niên 30 thế kỷ XX có những đóng góp quan trọng đối với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân cả nước nói chung, khu vực Tây Nguyên và miền Trung nói riêng. Phong trào có ý nghĩa to lớn, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý thức độc lập tự chủ của đồng bào các dân tộc thiểu số chống ách áp bức nặng nề của chế độ thực dân cai trị. Sămbrăm, vị thủ lĩnh cao nhất của phong trào, đã chọn phương pháp đấu tranh, cách tổ chức xây dựng lực lượng, đoàn kết các dân tộc phù hợp với phong tục tập quán, điều kiện thực tại, kinh nghiệm đấu tranh của đồng bào nên phong trào đã được hưởng ứng mạnh mẽ và phát triển trên một địa bàn rộng lớn. Bề ngoài, phong trào mang màu sắc thần bí, nhưng bên trong sôi sục tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm.

 

Nhiều buôn làng, dưới sự chỉ huy trực tiếp của các thủ lĩnh ở địa phương, đã xây dựng không gian cư trú của buôn làng thành căn cứ chống giặc. Tuy chỉ bằng những phương tiện đấu tranh thô sơ là cung tên, lao, giáo, cạm bẫy, chông gai… nhưng với tinh thần gan dạ, dũng cảm vì quê hương, đồng bào các địa phương đã chống trả ngoan cường, làm phá sản nhiều cuộc hành quân càn quét đánh phá của quân đội Pháp. Nhiều nơi, phong trào bị thực dân Pháp huy động lực lượng khủng bố tàn khốc. Song có những buôn làng bằng nhiều cách đối phó khác nhau vẫn giữ vững tinh thần đấu tranh, tồn tại kiên cường trước sức mạnh chiến tranh của quân xâm lược.

 

Thủ lĩnh Sămbrăm và cuộc đấu tranh gắn liền tên tuổi của ông xứng đáng được ca ngợi, tôn vinh bằng nhiều hình thức khác nhau. Việc bảo tồn, phát huy những di tích gắn với sự kiện và nhân vật lịch sử này là cách làm mang lại hiệu quả tốt, góp phần làm cho các thế hệ đi sau nhận thức rõ hơn về truyền thống tốt đẹp của cha ông, hun đúc tình yêu quê hương, đất nước. Ngôi mộ Sămbrăm, một di tích quan trọng trong hệ thống các di tích đó, đang được Bảo tàng Phú Yên tiến hành lập hồ sơ trình xếp hạng để tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di tích, di sản văn hóa.

 

KIM CHI - HỮU AN
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #8 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 09:36:25 AM »

Ba người lính già và Tết Mậu Thân 1968Không hiểu sao, mỗi lần gặp những người lính già ấy- những người lính từng vào sinh ra tử, người trẻ nhất giờ cũng đã gần 70 tuổi - nghe họ kể về 30 năm trường chinh giải phóng dân tộc, về những ngày ác liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi lại nhớ về hai câu thơ đời Trần:

Người lính già đầu bạc

Kể mãi chuyện Nguyên Phong

 

 Và trong dịp kỷ niệm 40 năm Tết Mậu Thân 1968, tôi lại được nghe họ kể về những ngày không thể nào quên khi ta đánh thẳng vào thị xã Tuy Hòa, sào huyệt của Mỹ- ngụy ở Phú Yên 40 năm về trước.

 

Nghĩa trang liệt sĩ Đông Tác (TP Tuy Hòa) - nơi yên nghỉ của nhiều đồng chí hy sinh trong Tết Mậu Thân 1968 -  Ảnh: X.HIẾU

 

Ông Hoàng Kim Giai là một  trong những người lính già ấy. Ông đã trực tiếp tham gia vào một trong những điểm ác liệt nhất trong cuộc tổng tiến công vào thị xã Tuy Hoà Tết Mậu Thân 1968. Lúc đó ông Hoàng Kim Giai 43 tuổi, là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 12, có nhiệm vụ đánh chiếm sân bay, nhà lao, nhà 18 gian… (thuộc khu vực phía tây phường 2 và phường 8, thành phố Tuy Hòa bây giờ). Không thể kể hết mức độ ác liệt của những trận đánh lúc đó. Điều đọng mãi trong ông Hoàng Kim Giai là tinh thần dũng cảm vô song của các chiến sĩ ta. Có những đồng chí bị pháo địch bắn dập cả hai chân vẫn chiến đấu, bắn hết viên đạn cuối cùng thì vung lựu đạn vào địch. Địch bị thiệt hại nặng, nhưng bên ta thương vong cũng không ít. Ông nhớ lắm những đồng đội, có những người mới 18, 20 tuổi, mới tối qua còn cười đùa vô tư như không hề có chiến tranh, vậy mà hôm nay đã mãi mãi nằm lại. Ông vẫn thường đạp xe qua trận địa cũ, để nhớ về những trận đánh, để nhớ về những đồng đội năm xưa mà suy ngẫm về những đổi thay nơi đây hôm nay. Ông nói: “Bây giờ nhà cửa mọc lên san sát, lại có cả trường học nữa, nghe các cháu ríu rít, thấy mừng. Và lại nhớ anh em”.

 

Vâng, với người lính, có tình cảm nào thiêng liêng hơn tình đồng đội! Với ông Huỳnh Tấn Hoan (tức Mười Hoan), lúc đó là Phó Thị đội trưởng Tuy Hòa, tết vừa qua, ông cảm thấy như còn đâu đây không khí đón tết giữa chiến trường thị xã Tuy Hòa năm xưa. Sát cánh bên nhau trong chiến đấu, có một vài khoảnh khắc bình yên hiếm hoi, họ lại kể cho nhau những kỷ niệm, và cùng nhau nhớ về tết cổ truyền dân tộc. Nghe tiếng pháo tết râm ran, nhiều anh em không giấu được nỗi nhớ quê, nhớ nhà,  mong  được ăn một cái tết yên bình không tiếng súng.           

                       

Vậy mà rất nhiều đồng đội đã không thể cùng ông đi qua trọn vẹn  mùa xuân năm đó. Ông nhớ như  in tên gọi từng người, còn sống, đã chết, trong đội Quyết Thắng do ông làm đội trưởng. Ông còn sống được đến ngày hôm nay để ôn lại những kỷ niệm này cũng là nhờ đồng đội đã chết thay ông. Người chiến sĩ đó tên Tranh. Khi pháo địch từ núi Nhạn vãi đạn xuống trận địa ta, chính anh đã xô ông xuống giao thông hào rồi nằm lên mình ông, che cho ông, giành cái chết về mình. Ông nghẹn ngào nói với tôi: “Đó là hình ảnh cảm động và sâu sắc nhất trong cuộc đời chú. Chú Tranh quê ở Liên Trì. Tết nào chú và chú Mười cũng ra nhà thắp hương cho chú Tranh. Cái ơn này quá lớn, trọn đời chú cũng không trả được”.   

                 

Chú Mười mà ông Hoan vừa nhắc là ông Trần Văn Mười, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, hiện là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Phú Yên, ông Mười mới 26 tuổi, là trợ lý tác chiến của Tỉnh đội. Cũng như ông Mười Hoan, đối với ông Mười, nhớ về Tết Mậu Thân 1968  là nhớ về những trận đánh ác liệt, là nhớ về những tấm gương rực sáng, sẵn sàng hi sinh, là nhớ về đồng đội, người mất, người còn...                     

 

Tết Mậu Thân năm 1968, nhớ tình đồng đội, nhớ nghĩa đồng bào. Không có dân thì không có Mậu Thân 1968, cả ông Hoàng Kim Giai, Huỳnh Tấn Hoan, Trần Văn Mười đều khẳng định như vậy. Ăn tết trên trận địa nhưng các chiến sĩ vẫn có đủ bánh kẹo do nhân dân tiếp tế. Dân dẫn đường, dân che chở, đùm bọc, chăm sóc. Ông Hoan bị thương nặng, không có dân chắc chắn ông không thể rút ra ngoài mà trở về căn cứ. Đồng đội tưởng ông đã chết. May mà bà con Ninh Tịnh phát hiện ra ông, đưa về che giấu, chăm sóc ông suốt 2 tuần rồi đưa ông lên Chóp Chài. Nhiều đồng đội ông cũng được nhân dân Phước Hậu, Ninh Tịnh, Liên Trì, Cẩm Tú đùm bọc, đưa ra vùng căn cứ an toàn. Ông Mười nói thêm: “Bao nhiêu năm sống trong vùng địch, bị địch kìm kẹp, thế nhưng dân vẫn một lòng với cách mạng. Mậu Thân 1968 cho thấy trận địa lòng dân bao la và vững chắc như thế  nào!”.                           

                 

Mới đó vậy mà đã 40 năm, họ đã trở thành những người lính già. Và như thông lệ hằng năm, tết vừa qua ông Hoàng Kim Giai, Trần Văn Mười và  Huỳnh Tấn Hoan lại  đến nghĩa trang liệt sĩ, thắp hương cho những đồng đội nằm lại trong chiến dịch Tết Mậu Thân năm 1968, thăm gia đình họ, thăm những đồng đội cũ. Trong hành trang  trĩu nặng của người lính, có một cái tết không thể nào quên: Tết Mậu Thân 1968. Sự kiện hào hùng đó với bao kỷ niệm, từ lâu đã thành một phần của cuộc đời họ. Và những người lính già ấy vẫn còn kể, kể mãi cho thế hệ hôm nay và mai sau được biết về một thời oanh liệt của cha anh.

 

XUÂN LUẬT
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #9 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 09:38:34 AM »

Học sinh Phú Yên biểu tình bạo động đốt Chi cảnh sát Tuy Hòa năm 1972


Ngày 10/3/1972, hơn 5.000 học sinh Tuy Hòa đã rầm rập xuống đường bao vây Chi cảnh sát ngụy để phản đối việc chúng bắn chết một học sinh trường Nguyễn Huệ một ngày trước đó. Học sinh đã đốt cháy Chi cảnh sát, giải thoát 46 người yêu nước bị địch giam giữ tại đây...   


Học sinh Nguyễn Huệ (Tuy Hòa) biểu tình, đốt Chi cảnh sát ngụy.                                                    Ảnh: D.T.X (chụp lại)

 

21 giờ ngày 9/3/1972, cảnh sát ngụy bắn chết anh Hà Trấp – học sinh lớp 11 trường Trung học tổng hợp Nguyễn Huệ. Cái chết của anh Hà Trấp gây sự xúc động lớn trong dư luận. Nhân dân thị xã Tuy Hòa căm phẫn, nguyền rủa bọn cảnh sát ngụy khát máu, hung hăng bắn giết học sinh giữa trung tâm thị xã. Học sinh các trường trung học Nguyễn Huệ, Đặng Đức Tuấn (nay là trung tâm giáo dục thường xuyên), Bồ Đề (nay là trường trung học cơ sở Nguyễn Văn Trỗi), Tân Dân (trụ sở cũ của Sở Giáo dục – góc đường Trần Hưng Đạo – Ngô Quyền) rầm rập xuống đường biểu tình đòi công lý và yêu cầu nhà cầm quyền trừng trị hung thủ giết người.

 

Phong trào lúc đầu là tự phát nhưng đội biệt động thị xã do anh Nguyễn Trung Thành (bí danh A5) đã cùng với đồng đội vào cuộc và lãnh đạo cuộc đấu tranh.

 

Anh Nguyễn Trung Thành gặp thầy giám học trường Nguyễn Huệ (phó hiệu trưởng chuyên môn) Lê Ngọc Giáng xin ý kiến thầy cho phép học sinh xuống đường đấu tranh yêu cầu nhà chức trách giải quyết ngay cái chết oan ức của anh Hà Trấp.

 

Dù thương học trò, tình thế buộc thầy Giáng phải nói theo giới cầm quyền:

 

“Các anh không được manh động, đừng để Việt cộng kích động gây loạn”.

 

Anh Nguyễn Trung Thành nhỏ nhẹ:

 

“Thưa thầy, tôi là gia đình học sinh, thấy cái chết oan ức thảm khốc của học sinh, nên cần phải đấu tranh đòi công lý để nhà cầm quyền không để xảy ra những trường hợp bắn giết học sinh tương tự”.

 

Thầy Giáng suy tư và im lặng.

 

Anh Nguyễn Trung Thành tìm gặp anh Diệp Xang  (nay là họa sĩ) – trưởng lớp trường Bồ Đề bàn bạc và viết hai băng rôn “Đả đảo bọn độc tài giết người vô tội”, “Yêu cầu giải quyết ngay cái chết vô tội của học sinh Hà Trấp”, đồng thời in truyền đơn kêu gọi học sinh các trường đoàn kết đấu tranh.

Băng rôn và truyền đơn được viết và in xong trong đêm 9/3/1972.

 

Rạng sáng ngày 10/3/1972, các anh trong đội biệt động thành Tuy Hòa (Nguyễn Trung Thanh, Lê Đoàn, Võ Tám, Mã Á, Võ Ân…) phối hợp cùng lực lượng cốt cán ở các trường thống nhất hành động. Học sinh trường Bồ Đề đi theo đường Trần Hưng Đạo, học sinh trường Nguyễn Huệ đi theo đường Lê Lợi và Lê Thánh Tôn, học sinh trường Đặng Đức Tuấn đi theo đường Phạm Phú Quốc (nay là Lê Trung Kiên), học sinh trường Tân Dân đi theo đường Nguyễn Công Trứ, Tản Đà…

 

Lực lượng 4 cánh với trên 5.000 học sinh rầm rập xuống đường như thác đổ tiến về bao vây chi cảnh sát (nay là vườn hoa Diên Hồng).

 

Đúng 7 giờ sáng ngày 10/3/1972, học sinh hô vang những khẩu hiệu trên băng rôn, phát truyền đơn kêu gọi đấu tranh cho tất cả những người qua đường.

 

Lực lượng vũ trang của địch tại thị xã Tuy Hòa và tỉnh Phú Yên lúc đó rất hùng hậu: Trung đoàn 47 chủ lực (thuộc sư 22 bộ binh), 14 tiểu đoàn địa phương, 2 đại đội cảnh sát dã chiến, một đại đội thiết giáp, một đại đội pháo binh, 16 trung đội nghĩa quân, một toán phượng hoàng và các đơn vị.

 

Đại Hàn (lính đánh thuê Nam Triều Tiên) và một ít lực lượng quân Mỹ.

 

Cạnh Chi cảnh sát là Ty Công Chánh (nay là Công ty Thủy nông Đồng Cam) có một bãi đá củ đậu (dùng để rải đường) được học sinh sử dụng ném như mưa vào chi cảnh sát.

 

Chi cảnh sát cầu cứu quận trưởng, tỉnh trưởng. Đích thân tỉnh trưởng ngụy quyền Nguyễn Văn Tố trực tiếp chỉ huy đàn áp cuộc biểu tình. Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tố điều lực lượng mạnh bao vây các ngả đường, ném lựu đạn cay mù mịt để giải tỏa nhưng không có kết quả.

 

Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tố điều động máy bay trực thăng bay rè rè trên đầu học sinh quay phim, chụp ảnh và ngọt nhạt kêu gọi học sinh quay về trường. Thấy không có kết quả, ông ta hăm dọa: “Sẽ nổ súng bắn chết nếu không giải tán”.

 

Song, trong biển người biểu tình của học sinh hôm ấy, có cả các “cậu ấm, cô chiêu” quý tử của tỉnh phó nội an, trưởng ty cảnh sát… nên biện pháp mạnh đã không xảy ra.

 

Đội biệt động và các lớp đàn anh lớp 12, 11 mua một phuy xăng 800 lít đổ vào bịch nhựa mỗi bịch hai lít ném vào bốn chi cảnh sát, nơi có đặt 4 cây đại liên 50.

 

Các anh cắt dây dép cao su châm lửa ném vào bốn lô cốt. Xăng gặp lửa bốc cháy, khói lửa mịt mù một góc trời.

 

Cảnh sát ngụy cố thủ trong chi cảnh sát hoảng hốt tháo chạy tán loạn. Học sinh uà vào chi cảnh sát phá nhà lao giải thoát 46 người yêu nước đang bị giam giữ ở đây, đập phá văn phòng mật vụ, văn phòng thẩm vấn, văn phòng căn cước, đốt cháy hai xe Ford hai xe Jeep, 65 xe gắn máy, xe đạp của nhân viên cảnh sát và đốt kho vũ khí gây cháy nổ mấy giờ liền.

 

Địch dùng lựu đạn cay đàn áp khốc liệt. Đến 15 giờ ngày 10/3/1972, học sinh rút lui sau khi đã đập phá và đốt tan tành chi cảnh sát.

 

Ngay đêm ngày 10/3/1972, ngụy quyền sử dụng lực lượng mạnh đàn áp khốc liệt, lùng bắt 400 học sinh và các chiến sĩ biệt động thành và kéo dây thép gai rào các nẻo đường ra vào thị xã để thu dọn hiện trường đổ vỡ ngổn ngang.

 

Bà con thị xã và học sinh tiếp tục đấu tranh đòi trả tự do cho những học sinh bị bắt giữ. Trước sức ép của dư luận, ngụy quyền lần lượt thả học sinh. Riêng các chiến sĩ biệt động bị lưu đày Côn Đảo cho đến ngày giải phóng.

 

THÀNH NAM
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM