Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Tám, 2014, 04:57:42 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Công an Nhân dân Việt Nam  (Đọc 41395 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« vào lúc: 29 Tháng Một, 2011, 05:45:47 AM »

Công an Nhân dân Việt Nam (CAND) và Quân đội Nhân dân Việt Nam (QDND) là hai người anh em song sinh, cùng chung tiền thân là các đội : Tự vệ đỏ, Tự vệ Công nông, Danh dự trừ gian, Danh dự Việt Minh… nhằm đối phó với các hoạt động phá hoại, do thám của thực dân Pháp và tay sai, bảo vệ nhân dân, Cách mạng và bảo vệ Đảng. Những tổ chức này xuất hiện đầu tiên trong cao trào Xô-viết Nghệ Tĩnh đầu những năm 30. Cùng với sự phát triển của phong trào Cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo, chúng ngày càng phát triển về số lượng, phạm vi cũng như sự « chuyên môn hóa » giữa hai chức năng « công an » và « quân đội », đặc biệt là sau năm 1940. Tuy nhiên, dù trong bất kì thời kì Cách mạng nào, chiến tranh cũng như hòa bình, CAND và QDND luôn có sự gắn bó mật thiết, chặt chẽ với nhau, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ chung đó là : giành độc lập, gìn giữ hòa bình, thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Do đó, thật là thiếu sót nếu chúng ta giới thiệu về QDND Việt Nam mà không dành ra một chút thời gian để tìm hiểu về CAND Việt Nam.

Với mục đích như trên, em xin mở chủ đề giới thiệu về « Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Công an Nhân dân Việt Nam ». Mong các bác nhiệt tình ủng hộ.

Mặc dù chung nguồn gốc và có ngày truyền thống chỉ muộn hơn QDND chưa đầy một năm (22.12.1944 và 19.8.1945), nhưng quá trình phong tướng của lực lượng CAND « kém oai » hơn hẳn. Thế mới có truyện có nhiều cụ cảm thấy « kém vui » khi được điều từ quân đội sang công an, mặc dù quân hàm không hề thay đổi. Nếu như bên quân đội có đợt phong tướng đầu tiên vào năm 1948 thì bên công an mãi tận đến năm  1977 mới có đợt phong tướng đầu tiên. Như vậy, giữa năm 1948 và năm 1977, bên quân đội còn có hai đợt phong tướng có quy mô nữa là vào hai năm 1959 và 1974, chưa kể một số cụ được phong lẻ tẻ vào giữa những năm 1950 và những năm đầu 1960. Quả là « thiệt thòi » rất lớn cho nhiều lãnh đạo cao cấp bên lực lượng CAND khi mà họ không hề được phong tướng, ví dụ cụ : Lê Giản, Trần Quốc Hoàn, Phạm Hùng, Lê Quốc Thân, Ngô Ngọc Du, Phạm Thái Bường, Phan Văn Đáng… Ngày nay, trong thời bình, vai trò của An ninh – Quốc phòng được chúng ta đánh giá ngang nhau, hệ thống cấp hàm của CAND và QDND là « bình đẳng » từ cấp lính trơn cho đến cấp đại tướng. Từ Đại tướng đầu tiên là cụ Mai Chí Thọ, cho đến nay CAND đã có hai đại tướng.

Lãnh đạo đầu tiên của CAND mang hàm tướng là cụ Phan Trọng Tuệ (Thiếu tướng, 1955). Ông cùng với cụ Lê Quốc Thân là hai thứ trưởng đầu tiên của CAND (từ năm 1958). Tuy nhiên, cụ Phan Trọng Tuệ được phong tướng khi còn bên quân đội. Do đó, người được phong hàm tướng đầu tiên của CAND chính là tướng Phạm Kiệt, được phong vào năm 1961 khi đang là Thứ trường đồng thời là Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an Vũ trang.

Đợt phong tướng chính thức, đầu tiên của CAND là vào năm 1977, với thế hệ các tướng lĩnh như các cụ : Lê Hữu Qua (người đã ký Mệnh lệnh sự vụ của Sở Công an Bắc Bộ ra lệnh khám xét trụ sở của tổ chức phản động Quốc dân đảng tại số 7 phố Ôn Như Hầu, Hà Nội ngày 12/7/1946), Nguyễn Thế Tùng, Nguyễn Văn Luân, Ngô Văn Kiếm…

Trải qua 66 năm trưởng thành và phát triển, CAND Việt Nam có nhiều các tướng lĩnh, lãnh đạo nổi danh trên khắp các lĩnh vực như các cụ : Trần Quyết, Viễn Chi, Lâm Văn Thê, Cao Đăng Chiếm, Nguyễn Tài, Cao Phòng, Lê Tẩu, Nguyễn Đình Ngọc, Vũ Huỳnh, Hoàng Mai, Nguyễn Trọng Tháp, Phan Văn Lai…



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #1 vào lúc: 29 Tháng Một, 2011, 06:11:37 AM »


Thiếu tướng Nguyễn Văn Luân (tên thật : Lê Danh Hỷ, 1921 – 13h27’ 2.8.2009) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục phòng cháy chữa cháy, Giám đốc Công an Hà Nội, Tham tán Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Nhân dân.

Huân chương Độc lập hạng Hai, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huy hiệu 40, 50, 60 năm tuổi Đảng, Huy chương Hữu nghị của Liên bang CHXHCN Xô Viết và Huy chương Hữu nghị của nước Cộng hòa Cuba…

Thiếu tướng (1977)


Thiếu tướng Nguyễn Văn Luân quê tại xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội).

Từ 10.1944 đến 4.1945, ông vào tổ chức thanh niên cứu quốc hoạt động bí mật tại địa phương ; 5.1945 – 7.1945, theo học tại Trường Quân chính kháng Nhật (Tân Trào, Tuyên Quang). Ông được kết nạp vào Đảng tháng 6 năm 1945.

Tháng 8 năm 1945, ông nhập ngũ là Chính trị viên Tiểu đội giải phóng quân ; 3.1946 – 6.1947, Tỉnh ủy viên tỉnh Phú Thọ, Trưởng ty Công an tỉnh Phú Thọ ; 7.1947 - 9.1947, theo học nghiệp vụ ở Công an khu 10 ; 10.1947 - 7.1954, Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang, Trưởng ty Công an tỉnh Tuyên Quang.

Từ 8.1954 đến 9.1956, ông làm Đội trưởng giảm tô, Bí thư Đoàn ủy cải cách ruộng đất ; 10.1956 - 10.1957, Trưởng phòng 2, Cục Cảnh vệ ; 11.1957 - 12.1958, Trưởng phòng Trinh sát Ngoại tuyến.

Tháng 1.1959, ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Cục trưởng Cục Trị an dân Cảnh ; 3.1962 là Cục trưởng Cục Phòng cháy chữa cháy - Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an).

Từ 5.1970 đến 4.1974, ông vào học Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương khóa 6 ; 5.1974 - 7.1981, Giám đốc Sở Công an TP Hà Nội, Thường vụ Thành ủy.

Từ 8.1981 đến 5.1982, ông được điều động giữ chức vụ Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát - Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ; 6.1982 - 1.1987, là Trưởng ban đại diện Bộ Công an Việt Nam tại Liên bang CHXHCN Xô Viết.

Từ 2.1987 đến 1.1993 Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát - Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ; 2.1993, nghỉ hưu và là Chủ nhiệm CLB Sỹ quan hưu trí Bộ Công an từ năm 1993 đến năm 2003, đồng thời tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương như Bí thư Chi bộ khu dân cư, Phó Chủ tịch Hội người cao tuổi phường Trần Hưng Đạo 1996 – 2001 (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội)

Theo báo Công an Nhân dân (bản điện tử)





Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #2 vào lúc: 29 Tháng Một, 2011, 11:27:19 PM »


Thiếu tướng Hoàng Mai (tên thật: Nguyễn Danh Chỉ, 18.5.1922 - 4h48' 24.12.2004) quê tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Ông tham gia hoạt động Cách mạng trước tháng 8 năm 1945, từng giữ các chức vụ: Giám đốc Công an Khu 12 (Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Yên, Hồng Gai và  Hải Ninh); Trưởng ty chính trị Nha Công an Trung ương; Cục trưởng Quản lý trại giam; Cục trưởng Cục Tuyên huấn; Hiệu trưởng Trường Sĩ quan An ninh nhân dân; trợ lý Bộ trưởng Nội vụ; Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học công nghệ; Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân.

Huân chương Độc lập hạng Ba; Huân chương Quân công hạng Nhất; Huân chương kháng chiến hạng Nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Nnhất; Huy chương Vì an ninh Tổ quốc; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...

Thiếu tướng (1977).
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #3 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2011, 06:49:43 AM »


Thiếu tướng Anh hùng Huỳnh Anh (Vũ Huỳnh, Chín Huỳnh, Tùng Hiên, 12.12.1913 – 18.07.2006) từng giữ các chức vụ : Trưởng ty Công an Quảng Nghĩa, Lãnh đạo Công an Liên khu 5, Trưởng Ban An ninh Khu 6, Giám đốc Công an Thuận Hải (Ninh Thuận và Bình Thuận).

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng…

Thiếu tướng (1977).


Làm quan nhà Nguyễn

Thiếu tướng Huỳnh Anh sinh tại xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong một gia đình nông dân nghèo đông con, bố ông mất sớm (1917), mẹ ông là cụ Nguyễn Thị Lò. Vì hoàn cảnh gia đình cho nên lúc còn nhỏ ông vừa đi chăn trâu vừa đứng ngoài dựa cửa học lỏm chữ của thầy. Biết ông nhà nghèo, thông minh, hiếu học, thầy giáo thương cảm nhận ông vào học không phải góp lúa, đóng tiền. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn tài học của ông đã nổi tiếng khắp vùng Điện An. Để có tiền vừa giúp mẹ vừa chuẩn bị lên Tam Kỳ học cao hơn, vừa đi học ông vừa phụ bế con cho thầy đồng thời dậy thêm cho đám học trò con nhà khá giả.

Học hết trường làng, ông khăn gói lên Tam Kỳ học trưởng tỉnh. Ở đây, vừa học vừa dậy thêm tại nhà thầy Nhẫn, Trợ Hiên, chẳng mấy chốc ông đã nổi tiếng khắp xứ Quảng bởi sở học của mình. Năm 1932, sau khi học xong sơ cấp (primaire), triều đình Huế mở kì thi vào Trường Quốc Tử giám Huế, ông lên kinh ứng thí và đỗ đầu. Liên tục ba năm học ở đây ông đều là học sinh xuất sắc và ra trường trước 2 năm so với bạn bè cùng trang lứa.

Ra trường đúng một năm, năm 1936, ông được triều đình Huế để ý và bổ nhiệm làm quan Thừa phái vào Bình Thuận nhậm chức. Tuy nhiên, ông sớm nhận ra chốn quan trường không thích hợp với ông, hơn nữa, càng học nhiều, đi nhiều, ông càng thấy sự thống khổ của người dân một cổ hai tròng và những chính sách của nhà Nguyễn. Sau nhiều lần suy nghĩ trước sau, năm 1942, ông quyết định từ quan về quê bất chấp lời can ngăn của một vài người trong dòng tộc. Tâm sự của ông trong thời kì này được thể hiện qua bài thơ ông viết vào năm 1940 :

Giang hồ trì sính kỷ sương sinh
Bạch chỉ đồ nha ngộ thử sinh
Hường hộc kỳ tằng phong vũ cấp
Bá tòng bất lại tuyết sương kinh
Vũ mao cố ảnh tàm nan trạng
Bê (tỳ) nhục thôi nhơn hận vị bình
Lõi lõi sầu trường hà xứ để
Thương thiên vạn lý nguyệt tam canh

Tạm dịch :

Đường đời dong ruổi đã bao năm
Giấy trắng đành đem vẽ quạ chăng
Chim giữa trời mưa nắng chẳng quản
Cây mùa đông tuyết giá đành cam
Nhìn qua lông cánh càng day dứt
Ngắm lại bong hình luống khổ tâm
Biết tỏ cùng ai niềm sâu kín
Trăng khuya thông cảm với thăng trầm

Trở lại quê hương, ông trở lại cuộc sống lam lũ của người nông dân áo vải. Học cao, biết rộng (ông thông thạo của Hán văn và Pháp văn), nhiều người khuyên ông xin làm quan ở quê nhà, chí ít thì dạy học. Đây cũng là thời kỳ phong trào Cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo bắt đầu phục hồi và phát triển mạnh. Không làm quan, không đi dạy, ông đi theo con đường của mình, vào rừng liên lạc với những người cộng sản, tham gia Cách mạng.

Người sĩ quan Cách mạng

Cách mạng tháng 8 thành công, ông được người cậu họ là ông Trịnh Quang Xuân đề cử và giới thiệu vào công tác trong lực lượng Công an tham gia bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới thành lập. Có học thức, thông minh lại mưu lược, đặc biệt thích hợp với ngành trinh sát, cho nên sau một thời gian ngắn, ông được tổ chức tin tưởng đề bạt là Trưởng phòng Trinh sát, rồi năm 1947, là trưởng Công an Tam Kỳ (Quảng Nam). Đúng một năm sau đó, năm 1948, ông tiếp tục được đề bạt giữ chức vụ Trưởng ty Công an Quảng Ngãi. Trong phong phào diệt ác trừ gian, thời kỳ đầu cách mạng còn non trẻ, ông đã biết dựa vào sức mạnh quần chúng, triệt để tôn trọng lợi ích của nhân dân. Với tài cầm quân, vốn kiến thức rộng, lại sâu sát thực tế của mình, ông đã cùng các lực lượng công an làm tan rã nhiều âm mưu thâm độc của Việt gian, phản cách mạng.

Năm 1957, khi đang phụ trách Công an Liên khu 5, theo phân công của cấp trên, ông mới lên tàu tập kết ra Bắc và về nhận công tác tại Bộ Công an. Do thông thạo cùng lúc ba thứ tiếng Trung, Pháp rồi Lào, ông được phân công vào Đơn vị 61B (tức K49 Tổng cục Tình báo).

Năm 1961, dưới vỏ bọc chuyên viên trong đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông lên đường sang Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ) dự hội nghị quốc tế về Lào. Bề ngoài, nhiệm vụ của ông chỉ quanh quẩn ở Giơ-ne-vơ, thực chất, nhiệm vụ của ông là tìm cách bí mật đến biên giới giữa Thụy Sĩ và Ý để gặp một điệp báo khác với biệt danh Diệp Sơn (tức Thiếu tướng Giáo sư Nguyễn Đình Ngọc).

Sau điệp vụ ở Thụy Sĩ, ông còn tiếp tục có mặt ở Thái Lan, Cam-pu-chia và Thái Lan trước khi lên đường vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu (năm 1962), chi viện cho An ninh Trung ương cục miền Nam, là Ủy viên Trung ương cục đồng thời là Trưởng ban An ninh Khu 6.

Miền Nam giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất, năm 1976, ông được điều về làm Giám đốc Công an Thuận Hải (Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay), đồng thời là tỉnh ủy viên cho đến khi về hưu năm 1986. Đây là một địa bàn tập trung nhiều người dân tộc Chăm và là một địa bàn hết sức phức tạp khi đó do sự hoành hành của Fulro. Là một vị tướng, Thiếu tướng Huỳnh Anh còn là một nhà thơ. Với bút hiệu Tùng Hiên, cho đến trước khi mất, ông đã để lại hàng trăm bài thơ.

Ông Chín Huỳnh “đánh” Fulro

Thuận Hải những năm đầu giải phóng, là một vùng đất hết sức phức tạp; dưới biển nạn vượt biên ồ ạt; trên rừng nhiều tổ chức phản động, tàn quân ngụy quyền rồi Fulro nhen nhóm thành lập những cái gọi là “mặt trận giải phóng” để chống phá đất nước vừa thống nhất. Ví dụ như giữa tháng 4/1975, khi xe tăng quân Giải phóng tiến vào giải phóng Ninh Thuận, Huỳnh Ngọc Sắng, Văn Thanh Bình, những tên sa đọa và cơ hội chính trị người Chăm đã nhảy ra lấy danh nghĩa Fulro tuyên bố “cộng tác với Cách mạng”, tiếp quản chính quyền ở một số thôn xã vùng An Phước... để giao lại cho Ủy ban quân quản. Bị vạch mặt, họ rêu rao “Cộng sản phản bội Fulro áp bức người Chăm”. Bình, Sắng dụ dỗ, lôi kéo thanh niên Chăm và đe dọa, khống chế số người Chăm là ngụy quân, ngụy quyền cũ, tập hợp thành lực lượng kéo nhau lên đồi Sương Mù dưới chân đèo Đa Nhim lập căn cứ “kháng chiến” chống phá Cách mạng. Bị truy quét, các nhóm này thu gom tàn quân chạy vào rừng phân tán thành những toán nhỏ, lẻ bám dân tiếp tục hoạt động, liên tục phục kích giết cán bộ trên đường đi công tác, kích động hằn thù dân tộc gây nên không khí căm phẫn trong cán bộ, chiến sĩ và sự hoang mang, lo sợ trong nhân dân.

Trước tình hình trên, phía quân đội chủ trương giải quyết nhanh vấn đề bằng chủ lực. Sư đoàn 10 đã mở chiến dịch, có xe tăng và máy bay từ sân bay Thành Sơn hỗ trợ phối hợp truy quét nhưng vẫn không thể tiêu diệt được những toán Fulro phân tán, thông thạo địa hình rừng núi và rất giỏi lẩn trốn.

Ngược lại về phía Công an, đây cũng là thời điểm tướng Huỳnh Anh được điều về làm giám đốc Công an Thuận Hải, không tán thành cho rằng đẩy mạnh truy quét Fulro sẽ gây nên sự đối lập giữa dân với chính quyền. Lực lượng Fulro đều là con em đồng bào Chăm ở địa phương, nguồn tiếp tế của đều do dân chúng trong các thôn xóm cung cấp. Nguồn tiếp tế không đứt, họ vẫn tồn tại, tiếp tục khống chế, kích động khiến số thanh niên Chăm bỏ trốn ra rừng ngày một gia tăng. “Súng về, người về, tư tưởng về” hay “Người đi gọi có công, kẻ trở về miễn tội” là những kế sách tướng Huỳnh Anh đề ra để tiễu trừ Fulro. Chủ trương “cắt vòi, nhổ rễ” được ông nêu thành khẩu hiệu. Công an cử cán bộ xuống “ba cùng” nắm dân, tích cực tuyên truyền giải thích chống Fulro bịa đặt, xuyên tạc đồng thời nắm vững và phát hiện nhanh những mối liên lạc giữa Fulro với dân để ngăn chặn kịp thời. Ông đã đến từng nhà sư cả, già làng, những chức sắc có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc, vận động họ cùng công an đấu tranh, kêu gọi những người theo Fulro về hàng. Cũng chính ông đã mang từng cân gạo, ký muối tặng đồng bào dân tộc khi gặp khó khăn. Những tài liệu công an thu được đều giao lại cho phía quân đội nghiên cứu. Ngược lại, phía quân đội cũng thông báo trước đầy đủ những chiến dịch truy quét để Công an và chính quyền địa phương phối hợp hành động.

Bộ đội huyện An Sơn bắt được một số Fulro. Tướng Huỳnh Anh chủ trương không tiết lộ những thông tin tội ác mà họ khai nhận ra ngoài, tránh gây hoang mang, căm phẫn trong cán bộ và nhân dân dễ gây kích động ý thức đòi trả thù. Dù có rất nhiều ý kiến phản đối ông vẫn cho đưa những người bị bắt về Ty Công an đối xử tử tế, giáo dục rồi tha về gia đình, với phương châm mà theo ông là  “Hàng thật, hàng giả tại nơi chúng ta cả” và “Chúng ta xử bằng tâm, chứ có xử bằng tòa đâu”. Nhờ vậy, họ tỏ ra yên tâm, khai nhận khá nhiều thông tin quan trọng.

Đàng Thị Trào, một nữ Fulro bị thương, ông cho người ra rừng đưa về chăm sóc y tế cẩn thận rồi nhận luôn Trào làm con nuôi! Hồi đó chỉ cần lý lịch có "sản phẩm cũ" một chút là xin việc đã khó khăn huống chi Trào, nhưng ông vẫn lấy danh dự ra bảo lãnh cho Trào làm cô giáo dạy trẻ. Trước ngày nhận việc, ông dặn " ở rừng quen, khi dạy trẻ phải tập nhẹ nhàng yêu thương, con mà đánh trẻ là ba kỷ luật" Đàng Thị Trào đã làm tốt công việc của mình; sau đó ông Chín đã xin cho  làm cán bộ thương nghiệp, rồi lấy chồng sinh con. Độc đáo nhất là cuộc nói chuyện "tay đôi" ở bìa rừng với Trương Thành Duyên - một sĩ quan Fulro đêm 30 Tết năm 1977; sáng hôm sau, Mồng một Tết hàng loạt chỉ huy đầu sỏ của hai tiểu đoàn Fulro lần lượt ra hàng. Huỳnh Ngọc Sáng, chỉ huy cao nhất của Fulro sau đó cũng bị bắt giữ tại bến xe Phan Thiết; hai tiểu đoàn Fulrô xem như bị xóa sổ. Nhiều hàng binh sau này đã xem ông là ân nhân, họ rất ngưỡng mộ ông vì ông đã lo cho nhiều người có việc làm, vợ con họ hòa nhập với cộng đồng mà không bị phân biệt đối xử.

Ít đạn, kiệm lời nhưng hành động bằng cách "đem trí nhân mà thay cường bạo" của ông đã khiến ông trở thành một nhân vật huyền thoại mà bọn phản động dù tàn bạo nhất cũng dập đầu kính phục. Đã có rất nhiều câu truyện truyền tụng xung quanh cái “trí nhân” của ông, ví dụ như chuyện chiếc võng hay chuyện ông cho người đi nhờ xe.

Vào một buổi trưa đầu hạ năm 1977, ngay giữa vùng Chăm, khi ông đang căng võng ở dưới gốc cây nằm nghỉ thì có mấy người phụ nữ Chăm bồng con đến bên. Thấy thằng bé cứ chỉ tay xuống chiếc võng, ý muốn nằm, ông liền đứng dậy, vui vẻ nhường võng cho đứa bé. Những người có mặt ai cũng sợ ông mất giấc ngủ, định kéo đi. Ông nhất định bảo bằng được cho đứa nhỏ nằm võng. Rồi đứa bé thích chí vùng vẫy trong võng, nó “bậy” cả ra võng mà ông vẫn vui... Câu chuyện tưởng là đơn giản, vậy mà rất nhiều người Chăm truyền tai nhau. Họ khen: “Ông cán bộ công an hiền và thương đồng bào Chăm nhiều lắm”.

Trong một chuyến đi công tác, khi chiếc xe con chở ông từ Tháp Chàm (Phan Rang - Tháp Chàm bây giờ) về xã Phước Đồng, Phước Hậu (huyện Ninh Phước), có một phụ nữ người Chăm đang ẵm đứa con nhỏ dưới cái nắng chang chang ngoài đường. Ông nói lái xe dừng lại. Sau những lời hỏi thăm bằng tiếng Chăm rất thân tình, ông mở cửa mời chị bế đứa nhỏ lên xe. Trên đường đi, ông và người phụ nữ nói chuyện tiếng Chăm rôm rả… Ông đích thân đưa mẹ con người phụ nữ Chăm về đến tận nhà. Câu chuyện tưởng như đơn giản ấy song chỉ ít ngày sau cả vùng Chăm Phước Đồng, Phước Hậu, rồi Phước Dân, Phước Hữu… ở đâu người ta cũng râm ran kể cho nhau nghe về câu chuyện "ông già Chín…" làm Công an to nhất tỉnh mà rất thương dân, chẳng nề hà giúp dân dù là việc rất nhỏ…Và rồi cũng từ những "việc nhỏ" ấy mà ông đã xây dựng được hàng trăm cơ sở, quần chúng tốt, luôn luôn hết lòng giúp đỡ Công an.

Chiến công là vậy, công lao là thế, nhưng đời thường ông hết sức thanh bạch. Cho đến lúc mất, vợ chồng ông vẫn ở trong một căn nhà cấp bốn. Thời kì sau giải phóng, Thuận Hải là nơi cón nhiều người vượt biên. Công an Thuận Hải bắt vượt biển thu vàng vòng hết bao này đến bao nọ, nhưng ông cấm tuyệt đối không đưa về kho của công an mà phải lập biên bản giao ngay cho bên tài chính. Người ta cũng kể lại rằng thời bao cấp, nhiều Giám đốc Công an ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tới thăm, thấy ông tướng già ăn khoai mì, khoai lang liền ngỏ ý gởi cho bao gạo, ông gạt ngay "tôi thích ăn mì, ăn ghế quen rồi" và từ chối thẳng.

Tham khảo: Công an Nhân dân (online), Công an Bình thuận (online)



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #4 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2011, 06:47:37 PM »


Thiếu tướng Nguyễn Thế Tùng (1917-1995) từng giữ các chức vụ : Phó Cục trưởng Cục Cảnh vệ, Cục trưởng Cục Kỹ thuật và Phản gián, Cục trưởng Cục Cảnh sát Nhân dân.

Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy Sơn Tây, Bí thư kiêm Trưởng Đoàn Vũ trang Tây Tiến.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba)… và các huân chương của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trao tặng.

Thiếu tướng (1977).


Ông vốn người họ Vũ. Hiện nay, các con cháu ông vẫn mang họ gốc. Năm 1935, do hoàn cảnh của gia đình ông phải rời quê hương làm phu trong các đồn điền của thực dân Pháp. Chính tại những đồn điền này, ông giác ngộ và bắt đầu tham gia các hoạt động Cách mạng do Đảng lãnh đạo. Do nói thông thạo tiếng Pháp, ông được tổ chức phân công làm công tác binh vận, thuyết phục và vận động binh sĩ ở các trại lính Pháp để họ đứng ra làm binh biến hay góp phần ngăn chặn và không tham gia vào các hành động tội ác của thực dân. Ít lâu sau, ông bị thực dân Pháp theo dõi và bắt giam tại nhà giam Nam Định rồi lần lượt chuyển đi các nhà giam Hỏa Lò (Hà Nội), Hòa Bình và Sơn La.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 nổ ra thành công, ông cùng các đồng chí của mình được giải thoát và được cử về làm Bí thư Tỉnh ủy Sơn Tây. Cuối năm 1948, do yêu cầu của cuộc Kháng chiến, ông được chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng điều sang tăng cường cho Quân đội làm Bí thư kiêm Trưởng đoàn Vũ trang Tây Tiến làm nghĩa vụ Quốc tế, tham gia bảo vệ Hoàng thân Xu-va-nu-vông và các cơ quan đầu não quan trọng của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.

Tháng 2/1956, do yêu cầu của việc tăng cường lực lượng cho ngành Công an, Trung ương đã quyết định điều chuyển ông về công tác tại ngành Công an với cương vị Phó cục trưởng Cục Cảnh vệ. Tại đây, ông đã chỉ đạo hoặc trực tiếp được giao nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ trong những chuyến thăm nước ngoài và các địa phương.

6 năm sau, năm 1962, ông được lãnh đạo Bộ Công an điều về làm Cục trưởng Cục Kỹ thuật và Phản gián. Được giao nhiệm vụ ở trận tuyến này, ông đã góp phần vào việc phát hiện những thông tin về các toán gián điệp biệt kích mà Mỹ - ngụy đã tung ra miền Bắc. Người ta còn nhớ, thời ông làm Cục trưởng Cục Kỹ thuật và Phản gián, mặc dù trang thiết bị nghiệp vụ của lực lượng Công an còn thiếu thốn, song trí tuệ và quyết tâm của con người đã góp phần đánh bại âm mưu đen tối của kẻ địch. Hàng chục toán gián điệp biệt kích tung ra ở nhiều địa phương miền Bắc đều đã bị sa bẫy của lực lượng Công an.

Khi đế quốc Mỹ leo thang ra bắn phá miền Bắc, năm 1967, ông được giao nhiệm vụ mới Cục trưởng Cục Cảnh sát Nhân dân. Tại thời điểm đó nhiệm vụ của đơn vị do ông lãnh đạo rất nặng nề, bởi hằng ngày, ngoài việc dùng máy ném bom bắn phá các tỉnh, thành phố, đế quốc Mỹ còn thông qua nhiều con đường để thu thập tin tức tình báo, lôi kéo và kích động các nhóm phản động ở miền Bắc nổi dậy để chống phá cách mạng, gây rối an ninh - trật tự. Ở cương vị Cục trưởng Cục Cảnh sát nhân dân, ông đã chỉ đạo lực lượng Cảnh sát các địa phương ngày đêm giữ vững trận địa, đảm bảo giao thông được thông suốt, bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân.

Nhiều vụ trọng án xảy ra thời kỳ này cũng được ông chỉ đạo và đưa ra xét xử. Trong số đó, nhiều người còn nhớ đến vụ khám phá một tổ chức văn hóa đồi trụy do Toán Xồm đứng đầu. Đây là ổ lưu manh lớn, hàng ngày lôi kéo số thanh niên ca hát, nhảy nhót, nghiện hút thuốc phiện và dâm ô trụy lạc… Trong hoàn cảnh thời chiến, nếu không triệt phá "ổ quỷ" này nó sẽ lôi kéo thanh niên vào con đường ăn chơi sa đọa, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân. Do vậy, sau khi nhận được nguồn tin do quần chúng nhân dân cung cấp, ông đã trực tiếp chỉ huy các trinh sát đột nhập vào băng ổ tội phạm và chỉ sau ít ngày toàn bộ các đối tượng trong vụ án đã bị bắt giữ và đưa ra xét xử.

Cũng trên cương vị là một Cục trưởng, ông cũng là người chỉ huy nhiều chuyên án lớn khác. Trong số đó phải kể đến vụ tham ô lớn tại một số công trình thủy lợi ở tỉnh Hải Hưng. Vụ làm tiền giả và tem phiếu giả với khối lượng lớn ở một số địa phương. Sau này trở thành vị tướng đầu tiên của lực lượng Cảnh sát, ông vẫn giữ được phong cách người lính, vẫn miệt mài với công tác nghiên cứu các quy luật hoạt động của các loại đối tượng, các sơ hở trong quản lý trật tự - xã hội khiến cho bọn tội phạm lợi dụng hoạt động. Là một vị tướng liêm khiết, khi ông mất, năm 1995, không sổ tiết kiệm, tài sản để lại chỉ là một cái tủ, do thủ tướng Phạm Văn Đồng tặng, một chiếc đồng hồ đeo tay, một cái đài và… một chiếc còi của công an giao thông, kỉ niệm của ông khi còn là Cục trưởng Cục Cảnh sát Nhân dân.

Với những cống hiến của mình, năm 1977, trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Lực lượng Công an Nhân dân, ông là một trong số ít những người được phong quân hàm cấp tướng trong đợt này và là vị tướng đầu tiên của lực lượng Cảnh sát Nhân dân.

Theo Báo Công an Nhân dân
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Năm, 2011, 06:56:16 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #5 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2011, 06:28:30 AM »


Thiếu tướng Lê Hữu Qua ( ? - ?) từng giữ các chức vụ : Trưởng Ban Trinh sát Sở Công an Bắc Bộ, Giám đốc Công an Khu 11 (tức Công an Hà  Nội ngày nay), Phó Ty Trật tự Tư pháp Công an Trung ương, Phó Giám đốc Vụ Trị an Dân cảnh, Cục trưởng Cục Cảnh sát Nhân dân, Cục Cảnh sát Quản lí Trại giam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ Vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba)…

Thiếu tướng (18.4.1977).


Thiếu tướng Lê Hữu Qua tham gia phong trào Việt Minh từ năm 1942. Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ông được cử vào Ban Lãnh đạo Ty Liêm phóng Bắc Bộ tham gia bảo vệ Chính quyền Cách mạng non trẻ. Thời gian này, trên cương vị Trưởng Ban Trinh sát Sở Công an Bắc Bộ, ông đã tham gia trực tiếp chỉ đạo vụ án Ôn Như Hầu nổi tiếng làm thất bại âm mưu của thực dân Pháp sử dụng các đảng phải người Việt gây bất ổn đời sống xã hội, khiến người dân hoang mang và lật đổ Chính phủ do Hồ Chủ tịch đứng đầu. Chính ông, ngày 12 tháng 7 năm 1946, là người trực tiếp kí Mệnh lệnh Sự vụ của Ty Liêm phóng Bắc Bộ ra lệnh khám xét trụ sở Quốc dân Đảng tại số 7 phố Ôn Như Hầu.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đầu năm 1947, sau khi Trung đoàn Thủ đô rút ra khỏi Hà Nội, ông được cử làm Giám đốc Công an Khu 11 (Công an Hà Nội ngày nay). Sau khi Nha Công an Trung ương chuyển lên Việt Bắc, ông được giao làm Phó Ty Trật tự Tư pháp. Thời kỳ này, trước yêu cầu của công tác đảm bảo an ninh phục vụ cuộc kháng chiến, dưới sự chỉ đạo của ông, Ty Trật tự tư pháp đã mở lớp huấn luyện đầu tiên vào năm 1951 ở đồn điền canh nông thị xã Tuyên Quang cho các học viên là cán bộ từ Liên khu 5 trở ra. Đến tháng 3 năm 1954, ông lại tổ chức tiếp lớp thứ hai ở ngay "An toàn khu". Kết thúc khóa đào tạo, ông được cấp trên cử đi tháp tùng và làm công tác bảo vệ Đoàn đại biểu do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu dự Hội nghị Genève.

Sau khi tham dự Hội nghị Genève về nước, đang ở Bờ Đậu, Thái Nguyên, đích thân Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn gọi ông về Hà Nội nhận giấy đặc biệt để bảo vệ Hồ Chủ tịch và Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong cuộc gặp toàn quyền Pháp Sainteny. Ít lâu sau, ông lại cùng ông Hoàng Hữu Kháng bảo vệ của Chính phủ với Chính phủ Ấn Độ của Thủ tướng J. Neru.

Năm 1956, ông được cử giữ chức Phó Giám đốc Vụ Trị an Dân cảnh. Đến tháng 5 năm  1962, ông được Chính phủ cử làm Cục trưởng Cục Cảnh sát nhân dân và đảm nhận cương vị này đến năm 1967. Thời điểm ấy ông đảm đương cương vị Cục trưởng Cục Cảnh sát nhân dân là thời khắc lịch sử khi cả dân tộc ta đang phải đương đầu với cuộc chiến tranh khốc liệt của đế quốc Mỹ. Lực lượng Cảnh sát Nhân dân ở các tỉnh miền Bắc vừa phải lo lắng giữ gìn an ninh - trật tự, góp phần chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa phải cắt cử cán bộ chi viện cho chiến trường miền Nam. Hiểu rõ nhiệm vụ chiến lược ấy, ông đã dành sự quan tâm đến công tác xây dựng lực lượng Cảnh sát từ Bộ đến các địa phương. Cũng trong thời kỳ ấy, ông đã chỉ đạo khám phá một số vụ án lớn nổi tiếng, trong đó có vụ trộm ấn vàng tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và nhiều vụ trọng án khác.

Thiếu tướng Lê Hữu Qua còn có một thời gian dài gắn bó với Cục Cảnh sát quản lý trại giam cho tới khi nghỉ hưu. Thời kỳ đầu nhậm chức, là lúc cơ sở vật chất của các trại còn nghèo nàn, đời sống rất khó khăn. Trong công việc thầm lặng và đầy gian khổ ấy, ông và đồng nghiệp đã không ngừng khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Do những thành tích và công lao của ông, ngày 18 tháng 4 năm 1977, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký quyết định phong quân hàm Thiếu tướng cho ông trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của lực lượng Công an Nhân dân.

Theo Báo Công an Nhân dân.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #6 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2011, 07:46:08 AM »


Trung tướng Phạm Kiệt (1910 – 1975) từng giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an, Tư lệnh kiêm Chính ủy và là Bí thư Đảng ủy Công an Vũ trang (Bộ đội Biên phòng ngày nay).

Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ : Đội trưởng đầu tiên Đội Du kích Ba Tơ, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 31 Liên khu 5, Cục trưởng Cục Bảo vệ Chính trị kiêm Bí thư Đảng ủy Cục, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa 3.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất...

Thiếu tướng (1961), Trung tướng (1974).


Trung tướng Phạm Kiệt sinh ra trong một gia đình lao động nghèo nhưng rất giàu nghĩa khí anh hùng cách mạng tại xã An Phú, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Mẹ ông tham gia phong trào văn thân chống Pháp. Bốn anh em đều hoạt động bí mật cho Đảng, đều bị tù đầy, tra tấn dã man nhưng không ai khuất phục kẻ thù. Riêng ông, năm 15 tuổi (1925) đã tham gia các hoạt động yêu nước ở quê hương.

Năm 1929, 19 tuổi, ông vào tổ chức Việt Nam Cách mạng thanh niên (Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội). Ngày 17/1/1931, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, là Huyện ủy viên phụ trách Công hội đỏ và chỉ huy Đội xích vệ xã. Do tuyên truyền, cổ động nhân dân huyện nhà sôi nổi ủng hộ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, ông bị thực dân Pháp bắt giam qua các nhà lao ở Quảng Ngãi và đày đi Buôn Ma Thuột, bị án tử hình sau giảm xuống tù chung thân.

Tại nhà lao Buôn Ma Thuột, ông là người dám vung xẻng phang một đòn chí mạng vào vai tên cai ngục đang đánh đập tàn nhẫn đồng chí mình làm xâu, khiến hắn vô cùng khiếp đảm, từ đó về sau chùn tay và hễ thấy ông là vội lảng tránh đi nơi khác. Ông cũng là người đã lập kế hoạch cho các ông Nguyễn Chí Thanh và Lê Tất Đắc trốn khỏi nhà lao Buôn Ma Thuột. Về sau, khi phát hiện ông là kẻ chủ trò, địch đã tra tấn, đánh đập anh một trận thập tử nhất sinh, nhưng khi tỉnh dậy vẫn bình thản nói với đồng chí: "Thà mình chết, đừng để cho Đảng bị thiệt hại".

Năm 1943, mãn hạn tù, thực dân Pháp đưa ông về quản thúc ở căng an trí Ba Tơ, nhằm cô lập, cách ly người cộng sản với quần chúng nhân dân, giết dần giết mòn trong lao động khổ sai và bệnh tật. Ông nuôi vịt đồng để dễ bắt liên lạc với đồng chí. "Anh chăn vịt" này đã đem những điều tâm đắc học hỏi được ở các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Bùi San, Lê Chưởng, Trương Quang Lệnh, Trần Mạnh Quỳ trong nhà lao Buôn Ma Thuột, truyền đạt lại cho đồng chí mình rằng : ‘’Thời cơ lớn đã đến. Phát xít Đức, Ý, Nhật nhất định thất bại hoàn toàn. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chưa chết như địch tung tin vịt, đã trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Phải gấp rút xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, sâu rộng trong nhân dân và trong binh lính địch. Lập căn cứ địa và xây dựng lực lượng vũ trang. Khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa…’’

Cũng chính ông, ngày Nhật đảo chính Pháp 9/3/1945, theo sự phân công của Tỉnh ủy Quảng Ngãi lâm thời, đã trở thành người Chỉ huy trưởng làm nên thắng lợi lịch sử của cuộc khởi nghĩa Ba Tơ nổi tiếng (những người lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ khi đó là ông, Trung tướng Nguyễn Đôn, Đại tá Nguyễn Khoách-cùng với Thiếu tướng Võ Bẩm là hai người tiên phong mở đường Trường Sơn sau này).

Ðội du kích Ba Tơ và cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ. Từ sự phát triển của phong trào quần chúng cách mạng, sau khi bàn bạc, thống nhất kế hoạch đánh chiếm đồn địch, kế hoạch khởi nghĩa, ngày 11-3-1945, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi quyết định thành lập đội võ trang xung kích, gồm 17 người tuyển chọn từ các tù chính trị ở căng an trí Ba Tơ; đồng thời chỉ định ông làm chỉ huy trưởng, ông Nguyễn Ðôn làm chính trị viên. Vũ khí trang bị phần lớn là gươm, giáo và bảy khẩu súng.

Ngay buổi tối hôm đó, đội du kích đã đột nhập Nha Kiểm lý, nhanh chóng thu toàn bộ súng đạn, hồ sơ và bắt Bùi Danh Ngũ, Tri châu Ba Tơ và một số binh lính; rồi dùng vũ khí thu được, có sự hỗ trợ của đông đảo quần chúng, đội lập tức tiến công đồn Ba Tơ thắng lợi. Sáng 12-3-1945, trong không khí hào hứng và trang nghiêm của cuộc mít-tinh mừng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa, Ðội du kích Ba Tơ chính thức ra mắt trước quần chúng nhân dân. Ðây là đội vũ trang tập trung đầu tiên của nhân dân Quảng Ngãi do Ðảng cộng sản Việt Nam trực tiếp tổ chức và lãnh đạo.

Giữa tháng 6-1945, Tỉnh ủy lâm thời quyết định thành lập Ban quân sự đồng thời là Ban chỉ huy Ðội du kích Ba Tơ. Ông Nguyễn Chánh được chỉ định làm Trưởng ban, ông và ông Nguyễn Ðôn làm Phó ban. Du kích Ba Tơ là đội vũ trang tập trung đầu tiên ở Nam Trung Bộ không chỉ kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào cách mạng ở tỉnh Quảng Ngãi, mà còn có tác dụng mạnh mẽ, góp phần tích cực vào việc thúc đẩy phong trào đấu tranh chống phát-xít Nhật, cứu nước của nhân dân các tỉnh Nam Trung Bộ.

Đội du kích Ba Tơ, là nòng cốt cho nhân dân Quảng Ngãi vùng lên tổng khởi nghĩa vào ngày 14/8/1945 - một trong số ít địa phương cướp được chính quyền về tay nhân dân sớm nhất trong cả nước. Khi đó, ông là Ủy viên Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Quảng Ngãi.

Cuối tháng 9/1945, Xứ ủy và Uỷ ban Nhân dân Trung bộ thành lập Ủy ban Quân chính Nam Phần Trung bộ do ông, ông Nguyễn Đôn, ông Trần Quang Giao phụ trách bao gồm các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Đắc Lắc và 4 tỉnh cực Nam Trung bộ: Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng nhằm bảo đảm hành lang và bàn đạp chuyển lực lượng Nam tiến và vũ khí của Trung ương và các tỉnh phía Bắc vào Nam bộ; đồng thời sẵn sàng đối phó với những cuộc tiến công của Pháp và chuẩn bị đưa lực lượng của mình vào tham chiến ở Nam bộ.

Năm 1946, ông là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 31 thuộc Liên khu V. Năm 1950, ông được triệu tập ra chiến khu Việt Bắc để đi nước ngoài bồi dưỡng quân sự. Ông gặp lại người bạn tù mà ông đã từng tổ chức vượt ngục cho đó là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh. Ông đề nghị anh Chủ nhiệm cho được phục vụ các chiến dịch để học hỏi thêm kinh nghiệm và sẽ đi học sau.

Từ 1952 - 1959, ông được bố trí làm Cục phó rồi Cục trưởng Cục Bảo vệ, Bí thư Đảng ủy Tổng cục Chính trị. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông được Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cử đi kiểm tra công tác chuẩn bị chiến trường ở phía Đông Bắc. Ông đã đến tận trận địa pháo binh, phát hiện sự nguy hiểm khi bố trí trận địa pháo dã chiến tại một địa bàn tương đối bằng phẳng. Ông là người duy nhất lúc đó vì nghĩa lớn đã nói lên sự thật không ngần ngại, đã đề nghị Tổng tư lệnh xem xét lại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh.

Tháng 8/1960, ông được Bác Hồ và Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Công an. Tháng 4/1961, ông được thăng cấp Thiếu tướng và được giao làm Tư lệnh kiêm Chính ủy một tổ chức an ninh mới ra đời, còn non trẻ: Lực lượng Công an nhân dân vũ trang.

Trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an vũ trang, ông luôn khiêm tốn, chân tình đoàn kết chặt chẽ trong lãnh đạo Bộ Công an, điềm tĩnh, dân chủ, chịu khó lắng nghe ý kiến cấp dưới; tìm hiểu rất kỹ con người và sự việc; kiên trì sự thật và chân lý. Nhờ đó, ông đã góp phần cùng Công an nhân dân luôn hoàn thành xuất sắc công tác an ninh nội địa và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não và những chuyến công tác quan trọng của lãnh đạo Đảng, Chính phủ. Ông cũng đặc biệt tập trung sức xây dựng, củng cố vững mạnh hệ thống tổ chức an ninh biên giới, sông biển, hải đảo. Nhờ đó, gián điệp, thám báo, biệt kích, người nhái… do giặc Mỹ tung vào miền Bắc, hầu như bị xa lưới gần hết.

Ông còn chăm lo công tác an ninh cho miền Nam. Những năm 1963-1964, được trên chấp nhận, ông cho tuyển chọn con em miền Nam vào Công an nhân dân vũ trang, mở trường đào tạo và chi viện hàng trăm chiến sỹ an ninh cho chiến trường miền Nam. Ông hết lòng yêu thương chiến sỹ, ngày đêm lo toan cho cuộc sống của chiến sỹ. Ông luôn nhắc đồng chí Bí thư riêng cố gắng sắp xếp 1/3 thời gian trong năm để đi công tác cơ sở, đặc biệt là đi những đơn vị, những địa bàn xa xôi, gian khó nhất.

Năm 1967, bất kể đạn bom, ông đi thăm các đồn biên phòng phía Tây, thăm đội nữ pháo binh Ngư Thủy, Quảng Bình, tặng quà và động viên chiến đấu. Mùa đông năm 1968, ông đi hàng tháng liền trong tiết trời lạnh buốt; kiểm tra các đồn biên phòng suốt từ Lai Châu, Lào Cai đến Quảng Ninh. Đi đến đâu, ông cũng nhắc nhở chỉ huy đơn vị phải sắm đủ màn chống muỗi, chống sốt rét, làm nệm cỏ, tìm cách sưởi ấm, tăng gia sản xuất thêm. Mùa hè năm 1973, dấu hiệu của căn bệnh ung thư đã rõ. Thế nhưng, ông vẫn trực tiếp tháp tùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Fidel Castro của Cuba đi thăm chiến trường Quảng Trị và đường Hồ Chí Minh. Trên đường về, ông không quên ghé lại thăm đơn vị nữ pháo binh Ngư Thủy.

Trung tướng Phạm Kiệt mất vào hồi 13h ngày 23 tháng 1 năm 1975 tại Hà Nội. Ngày nay, tại Quảng Ngãi, tên ông được đặt cho một con đường cũng như một số trường học trong tỉnh, nhà tưởng niệm ông cũng được xây dựng tại quê hương ông xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh.


« Sửa lần cuối: 24 Tháng Bảy, 2011, 07:52:42 AM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #7 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2011, 08:59:58 PM »


Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ (1917 – 1991) từng giữ các chức vụ : Thứ trưởng (đầu tiên) Bộ Công an, Tư lệnh kiêm Chính ủy (đầu tiên) Công an Vũ trang (Bộ đội Biên phòng ngày nay).

Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, Phó Tổng thanh tra Quân đội.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 15/10/2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân, huy chương khác.


Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ quê ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây – một vùng đất giàu truyền thống yêu nước. Dòng họ Phan ở Sài Sơn xuất phát từ Thạch Hà, Hà Tĩnh với ông tổ là Danh sĩ Phan Huy Ích. Phan Huy Ích chuyển từ Hà Tĩnh ra định cư tại xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây và sinh ra Phan Huy Chú, nhà Bác học, Sư học nổi tiếng thời Nguyễn. Tuy nhiên, ông lại sinh ra tại Viên Chăn, Lào. Cụ thân sinh ra ông là Phan Trọng Định, khoảng đầu thế kỷ 20, đã phiêu bạt sang tận Lào, Thái Lan mưu sinh.

Sau khi gây dựng được cơ ngơi tại Viên Chăn, cụ Định về quê đón cụ bà Trịnh Thị Miễn cùng 2 người con gái là Phan Thị Lạng và Phan Thị Nén sang đoàn tụ. Tại vùng đất mới 2 cụ sinh thêm ra các ông bà Phan Trọng Tuệ, Phan Trọng Quang, Phan Thị Sáng, Phan Thị Suốt.

Khoảng giữa năm 1930, Viêng Chăn trở thành nơi lưu trú của nhiều chiến sĩ cách mạng sau sự kiện Xôviết Nghệ Tĩnh bị dìm trong biển máu, phải lẩn trốn sự truy lùng của mật thám Pháp.

Cụ bà Trịnh Thị Miễn, tuy chỉ là người nội trợ, nhưng cũng là người đứng đầu tổ chức ái hữu, đã vận động bà con Việt kiều che chở, đùm bọc những chiến sĩ cách mạng. Được tiếp xúc với sách báo tiến bộ và những người cách mạng, Phan Trọng Tuệ đã tích cực tham gia các hoạt động xã hội như giúp đỡ người nghèo, chống lại sự hà hiếp, áp bức của bọn chức dịch, tay sai…

Năm 1934, Phan Trọng Tuệ trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1935, Phan Trọng Tuệ tham gia lãnh đạo cuộc mít tinh lớn phản đối thực dân Pháp, nên bị bắt giam 4 tháng. Sự việc này, cùng với ảnh hưởng và những việc làm yêu nước của gia đình họ Phan khiến chính quyền sở tại lo ngại, họ bèn trục xuất cả gia đình về quê gốc Sài Sơn để quản thúc cùng với Nguyễn Văn Thọ và Đào Văn Tiễu. Thời gian này, ông cùng các đồng chí của mình đã nhanh chóng khôi phục hoạt động, tổ chức vận động cách mạng ngay tại quê hương. Tháng 8/1936, "Tổ Cộng sản Đa Phúc" đã được thành lập tại nhà của ông với ba thành viên chủ chốt là Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Thọ, Đào Văn Tiễu. Tổ được ra đời nhằm công việc Tuyên truyền, vận động cách mạng trong quần chúng nhân dân địa phương và tìm cách bắt liên lạc với Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1937 ông trực tiếp phụ trách chi bộ Ðảng ở xã Sài Sơn và liên lạc với Thành uỷ Hà Nội. Năm 1940 ông là Bí thư Tỉnh uỷ lâm thời tỉnh Sơn Tây.

Năm 1941: Bí tỉnh uỷ Hà Ðông, rồi Bí thư liên tỉnh uỷ gồm Hà Nội, Hà Ðông, Sơn Tây, Hà Nam. Cuối năm 1941, ông là Xứ uỷ viên xứ uỷ Bắc Kỳ phụ trách công tác binh vận.

Tháng 9/1943, ông bị thực dân Pháp bắt tại Hà Nam và đem giam tại Hỏa Lò, Hà Nội. Cuối năm này ông bị kết án 27 năm tù và đày đi Côn Đảo cùng với hơn mười ‘’tù chính trị nguy hiểm’’ khác trong đó có Trần Văn An, Vũ Xuân Chiêm (sau này là Trung tướng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng). Trong tù ông tiếp tục hoạt động cách mạng, là chi ủy viên khối Hà Nội-Sơn La.

Cách mạng tháng Tám thành công, ông công tác trong Ban trật tự Côn Đảo cho đến ngày 20/9. Ông được Ủy ban Khởi nghĩa Nam Bộ cho thuyền ra đón và trở về cửa Mỹ Thanh thuộc Sóc Trăng trong đêm 22/9 cùng với nhiều tù chính trị khác trong đó có Bác Tôn và Lê Duẩn.

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, các tù chính trị Côn Đảo được phân công đi các tỉnh miền Nam và miền Trung lãnh đạo kháng chiến. Phan Trọng Tuệ được phân công ở lại miền Tây Nam Bộ trên cương vị Thanh tra kháng chiến Hậu Giang, Ủy viên liên tỉnh ủy (gồm 10 tỉnh miền Tây Nam Bộ). Ngày 23/8/1947, ông được cử giữ chức Chính trị viên Khu 9.

Từ tháng 12 năm 1948 đến năm 1950, ông làm Chính ủy Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn; Chính ủy Khu VII; Thanh tra Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Từ năm 1952 đến năm 1954, ông làm Tư lệnh, sau đó Phó Tư lệnh kiêm Chính ủy Phân liên khu miền Tây Nam Bộ.

Từ tháng 8 năm 1954, ông là Đại tá Phó Trưởng đoàn Liên hiệp đình chiến Nam Bộ rồi quyền Trưởng đoàn Đại biểu Bộ tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Ủy ban liên hiệp đình chiến Trung ương, đồng thời ông cũng giữ vai trò Phó Trưởng đoàn liên hiệp định chiến Trung ương. Năm 1955, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng theo Sắc lệnh 243-SL ngày 3 tháng 11 năm 1955, do Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh kí. Tháng 3 năm 1957, ông làm Phó Tổng thanh tra Quân đội.

Ngày 19/11/1958, các đơn vị bộ đội quốc phòng đang làm công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới, bờ biển, giới tuyến và các lực lượng vũ trang khác chuyên trách công tác bảo vệ nội địa và biên phòng, giao cho ngành công an trực tiếp chỉ đạo, lấy tên là Lực lượng Cảnh vệ, ông được cử phụ trách lực lượng này kiêm Thứ trưởng Bộ Công an. Ngày 3/3/1959, Khi lực lượng Công an vũ trang (tiền thân của lực lượng Biên phòng) được thành lập, ông được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Lực lượng Công an nhân dân vũ trang cho đến năm 1961.

Năm 1961 đến năm 1980, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và là Bộ trưởng lâu năm nhất của Bộ này. Thời gian ông làm Bộ trưởng kéo dài suốt cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc và thời kì khôi phục cơ sở giao thông, đường sá cầu cống Bắc Nam sau chiến tranh.

Từ năm 1965 đến năm 1968, ông được cử vào tuyến chiến lược Trường Sơn, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559 thay cho Đại tá Hoàng Văn Thái đi nhận nhiệm vụ khác. Đây cũng là thời điểm bắt đầu mở đường Trường Sơn cho cơ giới nhằm đáp ứng với đòi hỏi của thực tế chiến trường là quân Mĩ ào ạt đổ bộ vào miền Nam Việt Nam.

Năm 1968, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ông vào phụ trách và chỉ đạo công tác bảo đảm giao thông trên địa bàn Quân khu IV nhằm phục vụ cho công tác chi viện cho chiến trường miền Nam, đặc biệt là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Bởi vì, địa bàn Quân khu IV là địa bàn tập trung binh lực, vũ khí, đạn dược…chi viện của miền Bắc trước khi vượt Trường Sơn vào Nam cho nên luôn là trọng điểm đánh phá của giặc Mĩ.

Từ năm 1973 đến năm 1976, ông kiêm chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thời gian này ông cùng Phó Thủ tướng Đỗ Mười thay mặt Chính phủ chỉ đạo việc phát triển Đường Trường Sơn thành đường chuẩn Quốc gia. Đây là một vấn đề mang tính chiến lược, góp phần quan trọng tạo thế và lực cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Từ cuối năm 1974 đến 1975, ông làm Ủy viên Thường trực Hội đồng Chi viện giải phóng miền Nam. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa III và VI. Đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VI.

"Đồng chí Phan Trọng Tuệ, người Cộng sản kiên trung, một vị tướng, một cán bộ cao cấp của Đảng, của Nhà nước có đức độ và tài năng, hết lòng vì nước vì dân. Đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, gia nhập Đảng từ năm 1934 lúc mới 17 tuổi, đã 2 lần bị địch bắt, tù đày, tra tấn nhưng đồng chí vẫn giữ vững khí tiết…với tôi đồng chí là người bạn chiến đấu thủy chung". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

"Anh Phan Trọng Tuệ không chỉ đóng góp cho ngành Giao thông vận tải mà còn có nhiều cống hiến đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN, đấu tranh thống nhất nước nhà… Anh đã rất xuất sắc trên cương vị Chính ủy và Tư lệnh Đoàn 559 mở đường cơ giới cho ôtô đi sâu vào các chiến trường miền Nam. Anh huy động các lực lượng giao thông vận tải làm hậu cần cho quân đội giành thắng lợi cuối cùng ở Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau khi thống nhất nước nhà, anh đã chỉ đạo nhanh chóng khôi phục đường sắt thống nhất Bắc - Nam vào dịp Đại hội Đảng lần thứ 4 (1976)’’ (Nguyễn Văn Trân, nguyên Bí thư Thành ủy Hà nội, nguyên Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Hà Nội trong những ngày Toàn quốc kháng chiến).

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
donquijote
Thành viên
*
Bài viết: 13


« Trả lời #8 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2011, 03:30:47 PM »

Tiểu sử tóm tắt của đồng chí Trần Đại Quang

Trân trọng giới thiệu tiểu sử tóm tắt của đồng chí Trần Đại Quang – Ủy viên Bộ chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an.
tran-dai-quang

Đồng chí Trần Đại Quang

Họ và tên: Trần Đại Quang

Sinh ngày: 12/10/1956.

Quê quán: Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.

Dân tộc: Kinh.

Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 26/7/1980.

Trình độ học vấn: Phó giáo sư-Tiến sỹ Luật.

Lý luận chính trị: Cao cấp.

Tóm tắt quá trình công tác

- Tháng 7/1972: Tham gia cách mạng.

- Trước năm 2006: Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công an.

- Tháng 4/2006: Thiếu tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

- Tháng 4/2006: Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhiệm kỳ 2006-2010.

- Tháng 4/2007: Được thăng hàm Trung tướng.

- Tháng 1/2011: Trung tướng Trần Đại Quang được Bầu vào Bộ Chính trị.

- Tháng 8/2011: Trung tướng Trần Đại Quang được Chủ tịch nước ký  Quyết định số 1240/QĐ-CTN bổ nhiệm giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Công an.

-Ngày 03/08/2011: Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký Quyết định số 1240/QĐ-CTN bổ nhiệm ông Trần Đại Quang giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Công an.
Logged
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #9 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2011, 08:54:09 AM »


Trung tướng Trần Quyết (Phạm Văn Côn, 12.2.1922-0h39’ 1.3.2010) từng các giữ chức vụ : Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an Nhân dân Vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng), Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Ủy viên Quân sự tỉnh Hà Nam, Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương các Khóa 4, 5, Bí thư Trung ương Đảng Khóa 6, Đại biểu Quốc hội Khóa 8.

Huân chương Sao vàng (2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất… Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Trung tướng (1977).


Ông sinh tại thôn Ngọc Động, xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Sớm giác ngộ Cách mạng, năm 1940, 18 tuổi, ông tham gia hoạt trong Đoàn Thanh niên phản Đế. Năm 1942, ông bị bắt, giam tại căng Bá Vân (Thái Nguyên) và được kết nạp Đảng tại đây (4.1943). Cuối năm 1944, ông cùng nhiều bạn tù bị chuyển về giam tại căng Nghĩa Lộ (Yên Bái).

Tháng 3 năm 1945, ông tham gia phá căng Nghĩa Lộ, giết cai ngục trở về với Cách mạng. Việc không thành, tù nhân bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, 7 người tham gia cùng ông hy sinh, ông may mắn được đồng bào địa phương giúp đỡ, che chở cho nên thoát khỏi vòng vây. Người cứu ông là một bà mẹ nghèo ở huyện Văn Chấn, tên là Thanh. Chính bà đã chấp nhận tội chém đầu và nhường cơm cho ông, một người tù cộng sản.

Ra khỏi trại giam, ông về Hà Nam, tiếp tục hoạt động và được bầu làm Uỷ viên Ban Cán sự Lâm thời tỉnh Hà Nam phụ trách quân sự (4.1945), tham gia lãnh đạo Khởi nghĩa giành chính quyền tại đây (8.1945) rồi tham gia Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Hà Nam tiếp tục phụ trách quân sự. Năm 1946, ông được điều lên Sơn La, làm Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh này, rồi Bí thư Tỉnh ủy (1947).

Năm 1948, ông là Ủy viên Khu ủy Khu 14, rồi Ủy viên Khu ủy Việt Bắc sau khi sáp nhập 2 Khu 10 và 14 ; 1952, khi Trung ương quyết định mở Chiến dịch Tây Bắc, lập Khu ủy Tây Bắc, ông được cử lên Sơn La làm Bí thư Tỉnh ủy Sơn La và tham gia Khu ủy Tây Bắc ; 1953, Khu ủy viên, Giám đốc Công an Khu Tây Bắc, tham gia chỉ đạo bảo vệ an ninh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Năm 1955, ông là Thường vụ Khu ủy, Giám đốc Công an Khu Tây Bắc ; 1958 Phó Bí thư Khu ủy, Giám đốc Công an Khu Tây Bắc, 1963, được điều về Bộ Công an làm Cục trưởng Cục Bảo vệ Nội bộ ; 1967, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ; 1967 – 1974, Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ Nội vụ.

Tháng 12 năm 1976 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ ; 1977, Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang (nay là Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng), được phong quân hàm Trung tướng trong đợt phong tướng đầu tiên của Lực lượng Công an.

Tháng 3-1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5, ông tiếp tục được bầu lại làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ ; 12.1986 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6,được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng ; 6.1987 – 10.1992, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao. Trung tướng Trần Quyết là đại biểu Quốc hội Khóa 8 cho đến khi nghỉ hưu tháng 10 năm 1992.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: 1   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM